
Những câu truyện hay và Vườn Thơ
do Thùy Dzung Phụ Trách
- Mõ Sàigòn-
Đặng Thành Đức, người ở Khai Phong, tỉnh Hà Nam, nghe chúng bạn bàn chuyện, cho rằng huyện Duyên Châu ở Sơn Đông công việc nhiều mà sinh hoạt lại rẻ, thêm con gái thùy mị đoan trang, nên trong lòng ngập tràn khoan khoái. Nhân lúc mẹ vừa hốt hụi xong, bèn nói với mẹ rằng:
- Quốc gia có lúc thịnh lúc suy, nhưng vợ đẹp không phải lúc nào cũng có. Chẳng phải vậy sao?
Mẹ của Đức là Hàn thị, sửng sốt đáp:
- Vợ đẹp dành để
tiêu tiền. Gia đình mình chỉ mới đủ ăn. Hà cớ chi lại mộng mị xa vời ra như thế?
Đức cười to đáp:
- Mẹ đừng lo. Cũng như ở đây coi vàng là quý, nhưng khi đến mỏ vàng, thì cái quý ấy đã không còn nguyên vẹn. Cũng vậy, người đẹp ở đây sở dĩ làm cao, là vì người đẹp không nhiều, chớ đến nơi người nào cũng đẹp. Còn cao giá đặng hay sao?
Hàn thị nghe con trả lời một cách mạnh bạo như vậy, bèn trố mắt nói:
- Con từ nào tới giờ chỉ lo vườn tược, chăm sóc hoa màu, mà bây giờ bỗng đổi hệ đổi tông. Thiệt khiến cho mẹ khó ngăn điều thắc mắc!
Đức nhìn mẹ, thấy cả trời ngạc nhiên, bèn thưa với mẹ rằng:
- Chăm hoa để mưu sinh. Còn để ý tới
hoa người là làm cho đời mình nhiều ý nghĩa. Con đã tới tuổi chăm người, mà mẹ vẫn an nhiên, thì thiệt không biết mẫu tử thiêng liêng phải nghĩ làm sao cho đúng?
Hàn thị. Nghe con trả lời trớt quớt như vậy, bèn rúng động châu thân. Thảng thốt nghĩ rằng: "Trời không ngừng có phong ba, thì người cũng sáng phước chiều họa. Tuy là mẫu tử tình thâm, nhưng không phải chỉ trong một chốc mà giải thích cho con hiểu tường hiểu tận. Lại nữa, con có trách mình - thì cũng là dịp cho mình suy xét - hầu có thể trở thành gương tốt cho vợ nó về sau
". Nghĩ vậy, bèn cố tạo vẻ mặt hòa dịu. Thân thiết nói:
- Ở đời con sẽ gặp rất nhiều người, nhưng duy nhất chỉ có một người sẽ ở với con mà thôi. Nếu chọn đúng, con phẻ phắn một đời, bằng ngược lại, con ân hận quên thôi. Suốt đời trong tăm tối!
Rồi thở ra một cái, mà nói rằng:
- Con tới tuổi chăm người. Vậy người ở đâu? Sao chưa bao giờ nghe nói đến?
Đức lật đật đáp:
- Ở huyện Duyên Châu, tỉnh Sơn Đông. Con sẽ đến đấy đưa về, đặng mẫu tử gặp nhau, cho nồng ấm có nhiều hơn lúc trước.
Hàn thị. Nghe tới đâu hoảng hồn theo tới đó, nhưng sợ ném chuột vỡ đồ, chạm tự ái của con, nên nắm chặt đôi bàn tay lại. Gắng gượng nói:
- Cái gì con khiêng lên có thể bỏ xuống được, nhưng chuyện tình cảm. Không thể muốn bỏ là bỏ xuống được đâu. Con còn nhỏ, tương lai còn dài, thêm trường đời chưa trải. Mẹ chỉ sợ trong một phút yếu lòng, hoặc nông cạn nghĩ suy, rồi va vào điều tủi nhục, thì trước là con hổng đặng vui, sau đến lúc nhắm mắt cũng chẳng yên lòng đi xuống!
Thành Đức. Nghe mẹ bàn ra như vậy, bèn xoay chuyển ý nghĩ trong đầu thật nhanh, rồi bảo dạ rằng: "Mẹ là phận gái, ta là phận trai, thì ngay cội rễ căn nguyên đã đôi đường khác biệt. Nếu cãi lại thì ra tuồng bất hiếu, thời sao bằng im mẹ nó thì hơn, rồi đợi lúc thuận tiện chơi luôn mới không điều ân hận.". Nghĩ vậy, bèn từ tốn nói:
- Con lấy vợ là vì muốn nhìn thấy nụ cười của mẹ, nhưng bây giờ mẹ không cười, thời bỏ qua một bên. Chớ con không muốn thấy mẹ với dâu chưa gì
xăn tay áo!
Mấy ngày sau, nhân lúc mẹ đi qua làng bên hốt thuốc, Đức mới vào thu gom đồ đạc, cùng chôm một ít tiền, rồi lẹ làng ra cửa. Vừa đi vừa nói:
- Tiền này tiếng là của mẹ, nhưng cũng là của ta, bởi
di chúc đã bảo rằng: Y như thế!
Lúc đến địa giới của Duyên Châu, Thành Đức may mắn xin được một công việc dọn dẹp ở văn phòng kế toán, nên sinh kế cũng đỡ lo, lại còn được chủ nhân sốt sắng tìm nơi cư ngụ. Tuy chẳng đặng cao sang, nhưng so với bao kẻ thiếu trước hụt sau cũng nằm mơ không có.
Ngày nọ, Đức đang ngồi uống cà phê buổi sáng, bất chợt thấy bóng người xẹt qua ngõ nhà mình, bèn lật đật bước ra, thời thấy một người con gái tuổi chừng đôi tám, tóc cột đuôi gà, liền sửng sốt nói:
- Tiểu thư và tiểu sinh chưa hề quen biết. Sao lại đi vô?
Người con gái lớn giọng quát:
- Ta vào đây không phải đi tìm ngươi mà tìm
mèo. Vậy, ngươi có thấy con mèo tam thể của ta chạy qua đây không?
Đức! Từ khi trốn mẹ mà đi, cứ mãi giữ trong tâm tư là con gái xứ này vừa ngoan vừa đẹp, nay thực tế sờ sờ ra trước mắt - mới hiểu giữa cái nghĩ và cái thực nhiều khi lại quá xa - bèn nghe lòng bực bội, toan lớn tiếng cãi tràn, nhưng khi chạm đến ánh mắt buồn bã của người ta, bèn hào khí xìu hơn phân nửa. Lầm thầm bảo dạ: "Mèo chỉ là thú vật. Chưa biết có mất hay không, mà thần sắc ủ dột, giọng nói muốn đứt hơi, thì không biết lúc có chồng, sẽ yêu thương đến chừng mô đây nữa?". Nghĩ vậy, liền cẩn trọng nói:
- Tìm mèo là chuyện nhỏ, nhưng giữ gìn sức khỏe mới là chuyện lớn. Tiểu sinh tình thực không nhìn thấy con mèo chạy qua, nhưng lại nhìn thấy sắc diện của cô nương có phần không đặng, nên muốn nhắn nhủ một điều, là: Mèo có lạc cũng hổng sao, nhưng cô nương có bề gì thì lấy ai mà báo hiếu?
Người con gái đang âu lo là vậy, bỗng nghe đến chữ con mèo lạc mất, bèn quên là mình đang ở trong nhà người lạ. Tức tối hét:
- Ăn nói điều xúi quẩy. Thiệt là đáng ghét!
Nay lại nói về Trình tiểu thư. Hôm ấy mất một ngày đi tìm mèo mà không gặp, bèn ủ dột mày ê, ngồi ở góc phòng, đến độ mực nướng nai khô chẳng thèm đếm xỉa tới, bỗng có tiếng hỏi rằng:
- Tiểu thư mất mèo mà đau đớn như thế này. Có hiểu tại sao không?
Trình tiểu thư ngước mắt lên, thời thấy Chu Sương là tì nữ mà nàng hằng yêu mến, bèn chán nản đáp:
- Không!
Lúc ấy, Chu Sương mới ngồi xuống dưới chân. Nhỏ nhẹ nói:
- Tiểu thư buồn không phải vì mất mèo, mà mất đi nơi chốn để tiểu thư
đổ tình thương vào trong đó. Cái này giới đại phu gọi là tâm bệnh. Vậy để chữa tâm bệnh, thì phải bắt đầu từ cái gốc. Chỉ có vậy thôi!
Trình tiểu thư đang âu sầu là vậy, mà chỉ vài lời, lại thấy cả ngày mai, bèn ấp úng nói:
- Ngươi hiểu rõ ta còn hơn
ta. Vậy, muốn chữa tâm bệnh, thời ta phải làm sao?
Chu Sương thấy thái độ của chủ nhân mình như vậy, thì biết bệnh tình chỉ còn hơn phân nửa, bèn hăng hái đáp:
- Hạnh phúc thì ngắn ngủi, nhưng đau khổ rất là dài, và bởi vì dài nên cần có sự xẻ chia, bớt đi phần gánh nặng. Nay tiểu thư thay vì yêu mèo, thì hãy đổi lại là yêu người, thời tâm bệnh sẽ tiêu diêu, ngàn khơi xa tuốt .
Trình tiểu thư ngẫm nghĩ một chút. Chợt cười, chợt nhăn, rồi thở dài áo não, khiến Chu Sương không nén được tò mò. Gấp rút nói:
- Tì nữ theo hầu tiểu thư đã gần mười năm, nhưng chưa bao giờ thấy sắc mặt tiểu thư đổi thay làm vậy. Theo ngu ý của kẻ hèn này : Chắc là trong tâm tưởng đã có phần mơ mộng, ruột dạ xuyến xao, hẳn tâm ý đã dồn vô nơi mới.
Trình tiểu thư bỗng dõi mắt vào cõi xa xăm, rồi nghiêm mặt hỏi:
- Lầm lỗi mà muốn xin lỗi với người ta, thì phải làm sao?
Chu Sương lẹ miệng đáp:
- Thượng sách là gặp mặt. Trung sách là nhờ người. Hạ sách là chờ bên nọ nguôi ngoai, cho thời gian chôn lấp.
Trình tiểu thư im lặng một chút, rồi bất chợt nói:
- Thượng sách thì gấp. Hạ sách thì chậm. Trung sách thì vừa. Có điều ta không tiện nhờ người, thì phải làm sao?
Chu Sương nhanh nhẩu đáp:
- Không nhờ được người thì nhờ giấy mực. Chỉ có vậy thôi!
Trình tiểu thư nghe đến giấy mực, bèn lộ mối ưu tư. Thảng thốt nói:
- Giấy mực. Có ăn chắc thật không?
Chu Sương nồng nhiệt đáp:
- Xa, thời tiện nữ không biết, nhưng gần thì có ngay bên cạnh. Cách đây năm năm, tiện nữ lần đầu nhận được lá thư tình, vì sợ cha mẹ biết, nên phải đợi đến đêm nhờ ánh trăng mà đọc. Suốt khoảng thời gian đó, trong đầu óc của tiện nữ, bao nhiêu là nghi vấn, bao nhiêu là lo sợ, bao nhiêu là mừng vui, bao nhiêu là hồi hộp. Tóm tắt lại là cái cảm giác đó suốt quảng đời thanh xuân của tiện nữ chưa hề được trải qua. Nó réo rắt, nó ngọt ngào. Nó làm cho tiểu nữ cảm thấy tăng thêm phần sức mạnh. Không trang điểm mà vẫn đẹp. Không son phấn mà vẫn ngon. Không cắt sửa lôi thôi mà vẫn tin mình hơn
hoa hậu
Trình tiểu thư nghe tới đây, bỗng ửng hồng lên đôi má, mới ấp a ấp úng mà nói rằng:
- Mình là con gái, lại chưa quen mà gởi thư. Có tệ lắm chăng?
Chu Sương mĩm cười đáp:
- Nam nữ bình quyền. Con trai gởi được thì con gái cũng gởi được. Sao lại phải lo?
Trình tiểu thư nghe vậy, liền đưa móng tay lên cắn cắn mấy cái, rồi e thẹn hỏi:
- Lỡ người ta không nhận, thời phải làm sao?
Chu Sương đầu thì lắc, tay xua lịa xua lia. Lẹ miệng đáp:
- Tiểu thư với người ta chưa quen ắt phải lạ, mà đàn ông thấy gái lạ như quạ thấy gà con, thì sao lại có chuyện
không nhận nằm vô trong đó?
Trình tiểu thư nghe vậy, lặng người đi một chút rồi lẩm bẩm:
- Trên đời. Cái khó nhất là tự biết mình. Ta chỉ vì muốn quên mà gởi thư cho người khác, thì trước là xem nhẹ mình, sau tội cho người ta, bởi đang không trở thành
phao cấp cứu. Chi bằng ráng chịu thì hơn!
- Phạm Thanh Phương phụ trách
Thơ Đấu Tranh là nơi hội tụ những vần thơ "tải đạo" của các thi nhân luôn luôn thấy trong lòng: "Ba mươi năm lẻ đá mòn. Niềm đau trang sử vẫn còn trơ trơ. Ba mươi năm nát hồn thơ. Có nghe chăng mảnh dư đồ giẫy đau?" Thơ Đấu Tranh tha thiết hy vọng được sự đóng góp, xướng họa, của thi hữu xa gần có chung hoài bão: "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm; Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"... Qúy thi hữu, độc giả nào cảm thấy cao hứng, muốn "dương buồm chở thuyền đạo, phóng bút đâm kẻ tà", xin vui lòng gửi bài về hộp thư tòa soạn, bên ngoài ghi: Thơ Đấu Tranh. - Trân trọng. Phạm Thanh Phương
Lạc Đường
Ai mơ tưởng, "giao lưu" loài Cộng phỉ
Tạo đa nguyên, đa đảng, chuyển xoay vần
Cùng giao hoà, dân tộc hết trầm luân
Tay xiết chặt, "canh tân" tìm hạnh phúc
Thương biết mấy, những tâm hồn vẩn đục
Lừa bịp dân, phản bội cả giống nòi
Xây mưu đồ bên vũng máu còn tươi
Làm công cụ bầy sói lang, Cộng Phỉ
Từ bản chất, lọc lừa hồn nghĩa khí
Gom niềm tin, dâng hiến lũ tham tàn
Loạn nhân tình, đất nước lún nghiệt oan
Vờ chẳng thấy, bảo "dân giầu nước mạnh"
Đời khuất lấp, tâm hèn, thường nhiều mánh
Nay rêu rao giác ngộ, dựng Sơn Hà
Mai đói nghèo, dệt gấm, vóc, nguyệt, hoa
Che thực chất, loài thú hoang vô lại
Ai chẳng biết, Quê Hương mầu nhợt tái
Vẽ làm chi, thêm nhạt sắc phai mầu
Thôi quay về, chung sức gánh niềm đau
Cùng đốt lửa, đâu lưng đòi tự quyết.
Phạm Thanh Phương
*
Xuân Ơi, Xuân Về Chưa?
Hoa vàng, mai thắm nở
Phải Xuân về đấy không?
Quê hương ơi, cách trở
Bao xuân rồi, nhớ mong!
Quê ơi, thương nhớ lắm
Những mùa Xuân ngọc ngà
Dù Xuân nghèo, tao loạn
Nhưng tình Xuân thiết tha!
Ba mấy năm lưu lạc
Xuân về chưa, Xuân ơi,
Nhìn theo chòm mây bạc
Hồn Đống Đa bồi hồi
Mừng Xuân, ai yến tiệc
Vui hưởng cái phồn hoa
Riêng ta còn mải miết
Đợi mùa Xuân thái hòa
Đợi hoài sao chưa thấy
Chỉ thấy mình đơn côi
Thấy cờ vàng vẫy gọi
Đàn con yêu bên trời
Quê ơi, bao giờ nhỉ
Mùa Xuân được hồi sinh
Người nhìn người tỉnh mộng
Tặng cho nhau nhân tình
Bao giờ đàn chim Việt
Bay về tổ ấm xưa
Tìm mảnh đời đã mất
Xuân ơi, Xuân về chưa???
Ngô Minh Hằng
*
Đừng Quên Chuyện Tháng Tư
Gửi Khiêm - Bộ QP
Buổi chia tay, trời hanh rực nắng
Bước về từ cõi lạ xa xôi
Phế hưng đời vẫn luôn yên lặng
Nén chặt cô đơn- đứng ngó đời
!
Trong cuộc chơi có nhiều dối gian
Để khi cháy túi mới kinh hoàng
Thì ra thân phận ta con chốt
Tướng bỏ đi rồi, chốt rã tan
Bỏ súng lên rừng ta đốn củi
Bạn bè lắm đứa giả ngu ngơ
Thân như cục đá ai chào hỏi
Đói lả nhăn răng lũ dại khờ
Đêm nằm rờ rẫm lên thân thể
Mới biết xương sườn ta cứng cong
Vuốt nhẹ lưỡng quyền ta sợ bể
Hốc mắt thâm sâu thấu tận lòng
Ta đâu cần biết làm chi tội
Nên thèm đủ thứ tám năm dài
Mấy chục đứa mình nay được thả
Tao bắt tay mày hẹn tương lai
Buổi trưa gay gắt ga Bình Triệu
Bịn rịn quen hơi cảnh tội tù
Chia tay không nói mà trong mắt
Nhắc nhở đừng quên chuyện tháng tư
Mười năm, ừ nhỉ cứ mười năm
Không phải ngu ngơ vẫn cứ lầm
Giả dại cho qua thời dâu bể
Bước về coi bộ vẫn xa xăm
Thy Lan Thảo
*
Những Phím Đàn
Những phím đàn reo khúc tự tình
Gọi hồn tử sĩ lúc bình minh
Ngàn cơn thác đổ trên đầu giặc
Máu ngập sơn hà
buổi chiến chinh
Ai ở đầu ghềnh, ai cuối sông
Có nghe nguồn lệ chảy xuôi dòng
Trời Nam biển Bắc hờn đôi ngả
Con cháu tiên rồng lạc tổ tông
Những phím đàn reo khúc biệt ly
Mây sầu giăng bước kẻ ra đi
Tám phương sông núi màu tang tóc
Mối hận muôn đời mãi khắc ghi
Nửa hồn gửi lại chốn quê hương
Ôm mối sầu thương, nỗi đoạn trường
Bãi cát, cồn hoang thân viễn xứ
Nửa hồn phiêu giạt với tang thương!
Những phím đàn reo khúc thái lai
Non sông rực rỡ nét trang đài
Đá cười nghiêng ngả bên ngàn liễu
Biển hát lời tình, trăng đắm say
Chim hót bài ca mừng sức sống
Muôn hoa đua nở tiết đông phong
Lâm viên một cõi ngời trong nắng
Em với tình yêu
thắm nụ hồng
NPNA
*
Uống Nước Nhớ Nguồn
Uống nước nhớ nguồn
Dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm văn hiến
Đâu dễ gì quên nguồn cội tổ tiên
Chân bước đi lòng nặng trĩu ưu phiền
Ngoảnh mặt lại quê hương dần khuất dạng
Mắt đăm đăm nhìn mây trôi lãng đãng
Lòng dặn lòng xin hẹn một ngày mai
Bước trở về trong rực rỡ tương lai
Để không thẹn hồn thiêng sông núi Việt
Để không hổ danh anh hùng tuấn kiệt
Mẹ sinh ra, mẹ hãnh diện đàn con
Ý chí quật cường, trung dũng sắt son
Vì vận nước, đành cúi đầu chấp nhận!
Ba mươi năm, nơi phương trời lận đận
Làm được gì, cho rạng rỡ tổ tông
Lo kế sinh nhai, mưu cầu sự sống
Đất nước người, ai sống chết mặc ai
Thời gian đâu nghĩ đến chuyện ngày mai
Ôi, mộng ước như vầng mây bao phủ
Dẫu không quên, dẫu lòng luôn ấp ủ
Đành buông xuôi cho năm tháng dần qua
Các con đây tủi hổ với sơn hà
Chẳng thể hiện lời thề trong quá khứ
Xin gục mặt, xin một lần tha thứ
Đàn con xưa mòn mỏi kiếp ly hương
Đàn con xưa dầu dãi tóc pha sương
Còn đâu nữa oai hùng như thuở trước
Còn đâu nữa nhịp quân kỳ tiến bước
Ôi, chỉ còn trơ lại chút tàn hương
Thân dật dờ trong kiếp sống nhiễu nhương
Nhìn về quê Mẹ ruột đau như cắt!
Ba mươi năm Mẹ trông chờ mỏi mắt
Đàn con xưa, thân chiến bại không về
Ngày qua ngày trong vùng tối u mê
Miếng cơm, manh áo, biết gì hơn nữa...
Buông xuôi tay cho nhuệ khí một thời
Biết ngày mai có về được quê tôi
Gửi được nắm xương tàn trên đất Mẹ !
Hay muôn thuở là linh hồn lặng lẽ
Nơi xứ người quạnh quẻ lệ từng đêm
Ba mươi năm
vẳng tiếng Mẹ ru êm
Con ơi
uống nước nhớ nguồn
đừng quên
nguyenphanngocan - Cal.
*
Nỗi Lòng Người Viễn Xứ
Đồng kính tặng tất cả Anh Hùng Chí Sĩ đang đấu tranh vì Chính Nghĩa Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Quê Hương VIỆT NAM
Một ngày lên đường
Sông khuya mờ sương
Hận đời ly loạn
Ra đi mà vương
Mắt Mẹ già rưng sầu
Bóng con đò, luống trầu
Và bao nhiêu hồn thiêng sông núi
Đã xa mờ, xa mờ
Vượt trùng dương ngàn
Ngờ đâu hoang tàn
Hải tặc man rợ
Gieo bao họa tang
Sóng dập dồn xác người
Máu trẻ thơ loang tận chân trời
Tuổi xuân thì đang thanh tân ngày qua sắc thắm
Bỗng hãi hùng trong dập vùi nát tan đời hoa
Bởi lũ hung tàn
Ác hơn sói lang!
Ôi xiết bao tiếng hờn căm gào thét
Còn vang mãi trên biển Đông đến ngàn năm sau ...
Giờ nơi xứ lạ
Qua bao mùa tuyết rơi trắng xóa những con đường
Tưởng như màu tang thê lương
Trên quê hương vất vả
Trên những con tàu năm xưa xuyên đại dương
Giờ đây lòng tràn dâng nhớ thương
Thân nghe buốt thấu
Tim ta rướm máu
Thề quyết dấn thân một lòng đấu tranh
Như gương bao anh hùng xưa nơi sa trường ghi sử xanh
Sẽ một ngày trở về
Giữ trọn lời thề
Quyết óc tim này bừng sôi khí thế
Diệt tan tành bạo lực u mê
Ta sẽ thấy lại Mẹ già rạng rỡ nét cười
Sông núi ruộng vườn thêm sắc xanh tươi
Và trên khắp nẻo đường đất nước
Trăm triệu dân lành đồng hát mừng Dân Chủ, Tự Do
Khải Huy
THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN
NHỮNG VẦN THƠ
72
Hà Nội ơi, từng mỗi bước đi
Trong màu sinh hoạt xám than chì
Trong lòng dân chúng thành đô cũ
Cảnh cũ muôn ngàn đan tiếc ghi!
73
Cách biệt nhau rồi, hải cảng ơi!
Thương em lao khổ tận phương trời
Bàng hoàng sống lại mùa xa cũ
Ta với em vui giữa hội đời
74
Với cuộc đời không mảy may ước hẹn
Cảnh tù lao khổ đói đã dần quen
Riêng mẹ cha già hận ấy lòng con
Tới tàn kiếp niềm đau càng giữ trọn!
75
Có chuyến tàu khuya chạy về ga vắng
Có những chân trời tỏa nắng xa xăm
Có lưỡi dao găm, sâu cắm tâm tình
Đêm mưa lạnh, trở mình ho rũ rượi
76
Một chấm mờ xanh ngọn đèn vặn nhỏ
Một làn gió thoảng bâng quơ
Một buông rơi nhẹ ngoài sân cỏ
Một mùi hương thầm thoảng đơn sơ..
77
Thiên đường cụ Mác hoặc tù lao!
Địa ngục còn xin kính cẩn chào
Nếu cứ tin đài, tin sách báo
Có ngày mếu máo với vêu vao!
78
Nhìn tù nhân ăn, nhìn tù nhân làm lụng
Nhìn số lượng tù, cả án lẫn tập trung
Anh sẽ hiểu một điều quan trọng:
Tù lao, ngành kinh tế vô song!
79
Anh đừng than thở tù lâu
Anh đừng thắc mắc vì đâu anh tù
Một khi anh hiểu trại tù
Là khu sản xuất bội thu hàng đầu
80
Ôi, cuộc sống, người tồi hơn cái chết
Ta nằm run trong cơn sốt bình minh
Bóng tù lao xóa bỏ bóng thâm tình
Đêm đao phủ cực hình đem dụng hết!
- LS Lê Đình Hồ-
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]
Hỏi (ông Trương V.K): Con tôi bị cáo buộc về tội cướp có vũ khí. Cháu không chịu nhận tội. Sau đó được xét xử bởi bồi thẩm đòan. Cuối cùng bồi thẩm đòan cho rằng cháu có tội.
Cách đây 4 tuần lễ tòa đã tuyên phạt cháu 6 năm tù và buộc cháu phải thụ hình tối thiểu là 4 năm.
Đây là lần đầu tiên cháu gặp rắc rối với pháp luật. Cháu có cho biết là bản án quá nặng và yêu cầu tôi liên lạc với LS phụ trách trường hợp của cháu để kháng án.
Xin LS cho biết là cháu có nên kháng án hay không?
*
Trả Lời: Điều 97(1) của Đạo Luật Hình Sự (Crimes Act 1900) quy định rằng: “Bất cứ ai, trang bị với vũ khí, hoặc khí cụ tấn công, hoặc đồng lõa với người khác để cướp hoặc hành hung bất cứ người nào . . . sẽ bị tù 20 năm” (Whosoever, being armed with an offensive weapon, or instrument, or being in company with another person, robs, or assaults with intent to rob, any person. . . shall be liable to imprisonment for twenty years).
Trong vụ Veale v R [2008] NSWCCA 23, “khi nạn nhân đang đi bộ gần bãi đậu xe, bị cáo lái xe vào bãi đậu và lái nhanh về hướng nạn nhân. Bị cáo nhảy ra khỏi xe với lọai nón nĩ trùm đầu và mặt, chạy theo sau nạn nhân và giựt chiếc túi mà nạn nhân đang mang, chạy trở lái xe và xe bỏ đi” (as the victim was walking adjacent to a car-park, the accused drove into the car-park and then quikly towards her. He emerged from the car with a balaclava covering his face, ran after her and grasp a bag she was carrying, returned to the vehicle and drove off).
“Nạn nhân và chồng của cô đã chạy đến trạm xăng, và trong túi xách, ngòai cái ví, điện thọai di động và giấy tờ cá nhân, còn có số tiền mặt $20,000 mà nạn nhân mang đi gởi ngân hàng. Chiếc xe được nói đến là chiếc xe bị đánh cắp vào chiều hôm trước đó và đã dụt bỏ sau vụ cướp” (The victim and her husband ran to a service station and in the bag was, in addition to a purse, mobile phone and personal papers, a sum of $20,000 in cash which the victim was taking to the bank. The car to which reference has been made was stolen on the previous evening and abandoned after the robbery).
Sau đó bị cáo bị bắt và bị kết tội cướp có vũ trang. Bị cáo bị tuyên án 10 năm tù ở và buộc phải thụ hình tối thiểu là 7 năm. Bị cáo bèn kháng án với các lý do sau:
1.”Quan Tòa đã sai lầm không chịu xem xét tình cảnh đặc biệt” (His Honour erred in failing to find special circumstances).
2.”Quan Tòa đã sai lầm do sự quyết định rằng hồ sơ hình sự của bị cáo là yếu tố gia trọng của sự vi phạm” (His Honour erred by finding the accused's criminal record was an aggravating feature of the offence).
3.”Oâng Chánh Aùn đã sai sót trong việc cho giảm án đối với sự nhận tội” (His Honour erred in the discount allowed for the plea of guilty).
4.”Oâng Chánh Aùn đã sai sót không chịu lưu tâm đến tình trạng sức khỏe của bị cáo và sự kiện về việc bị cáo đang thụ hình trong khu giam giữ có sự bảo vệ” (His honour failed to take into account the accused's medical condition and the fact that the accused was serving his sentence in protective custody).
5.”Bản án rõ ràng là quá nặng” (the sentence is manifestly excessive).
Tòa Kháng án Hình Sự đã tạm hõan xét về lý do thứ nhất.
Về lý do thứ hai Tòa đã cho rằng điều 21A(4) của Đạo Luật Hình Sự [về Thủ Tục Tuyên Aùn] 1999 [Crimes (Sentencing Procedure) Act] quy định rằng: “hồ sơ trước đây của phạm nhân tự nó không làm cho tội trạng trầm trọng thêm” (an offender's prior record does not aggravate the offence itself). Vị thẩm phán tọa xử đã không lưu ý về sự quy định này của luật pháp. Vì thế tòa đồng ý với lý do này.
Về lý do thứ 3, ông Chánh Aùn đã sai sót trong việc giảm án đối với sự nhận tội. Về lý do này “Tòa đã cho rằng bị cáo bị cáo buộc vào tháng 6.2005. Bản tóm lược về sự truy tố của Công Tố Viện cho thấy rằng bị cáo được chuyển giao để xét xử vào ngày 20.7.2005 và việc xét xử được lên danh sách tại Tòa Aùn Vùng vào ngày 29.5.2006. Rồi có sự thương lượng giữa hai bên, Công Tố Viện đã thay thế một tội danh nhẹ hơn và bị cáo đã nhận tội đó tại Tòa Aùn Vùng vào ngày 30.5.2006” (The Court has indicated that the accused was charged in June 2005. The Crown case sumary indicates he was committed for trial on 20 July 2005 and his trial was listed before the District Court on 29 May 2006. There were then negotiations between the parties, the Crown substituted a lesser charge and the accused pleaded guilty to it before the District Court on 30 May 2006).
Việc Tòa đưa ra quyết định để giảm thời gian thụ hình còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Ngay cả trong trường hợp sự nhận tội được đưa ra ngay sau khi bị cáo buộc. Dù sự nhận tội được đưa sau chậm hơn, hoặc ngay cả trong trường hợp sự nhận tội phải triển hõan vì công tố viện vẫn duy trì việc cáo buộc với một tội trạng nặng hơn và lý do nhận tội trễ là vì công tố viện vừa thay thế một tội trạng khác nhẹ hơn. Tất cả các điều đó đều do sự cứu xét của vị thẩm phán tọa xử. Vị thẩm phán tọa xử có tòan quyền trong việc cân nhắc các yếu tố trước khi quyết định thời gian thụ hình.
Riêng về lý do ông Chánh Aùn đã sai sót không chịu lưu tâm đến tình trạng sức khỏe của bị cáo và sự kiện về việc bị cáo đang thụ hình trong khu giam giữ được bảo vệ. Về vấn đề này bị cáo đưa ra bằng chứng rằng bị cáo không thể tự mình bảo vệ được cho mình khi còn ở trong tù vì thế bị cáo đã được đưa vào giam tại khu được bảo vệ. “qúy vị không được ra ngòai nhiều giống như những người khác, quý vị bị giới hạn trong khu có hình trái xoan, quý vị không được thả ra cho đi làm việc, quý vị không đi đâu cả, giống như tôi không được đi qua khu tù lọai C vì hầu hết họ là tù cốt cán” (you don't get out as much as everyone else, you're restricted to ovals, you don't get work release, you don't go, like I can't go to a C class gaol because most of them are main). Tuy nhiên, Tòa cho rằng bằng chứng về việc thụ hình trong khu được bảo vệ không phải vì thế mà suy đóan rằng điều kiện của bị cáo sẽ khó khăn hơn những tù nhân khác.
Riêng về lý do bản án rõ ràng là quá nặng, Tòa cho rằng hình phạt tối đa dành cho tội trạng này là 20 năm. Thống kê cho biết là 291 ản án của tội trạng này đã có thời gian thụ hình trung bình là 7 năm 6 tháng. Trong đó có 1 vụ với bản án 14 năm, 19 vụ 6 năm và một vụ phải thụ hình tối thiểu là 10 năm.
Tuy thế, cuối cùng Tòa đã chấp nhận lập luận của bị cáo và giảm án xuống còn 8 năm và buộc bị cáo phải thụ hình tối thiểu là 6 năm.
Dựa vào phán quyết vừa trưng dẫn ông có thể thấy được rằng tội trạng mà con của ông phạm phải là một tội hình sự nghiêm trong vì hình phạt tối đa dành cho tội trạng này là 20 năm tù.
Chúng tôi không thể đưa ra ý kiến liên hệ đến việc liệu bản án xử con của ông là quá nặng hay không [6năm và buộc phải thụ hình tối thiểu là 4 năm] vì trong thư ông không kể rõ tình tiết của sự vi phạm.
Nếu ông có thì giờ, xin ông liên lạc với chúng tôi để xem liệu trường hợp của con ông có nên kháng án hay không. Thực ra, ông nên làm theo ý của cháu. Vì khi khán án với lý do là bản án quá nặng thì cháu không có gì để mất cả. Hoặc là y án hoặc sẽ được giảm án.
- Mõ Sàigòn-
Trình Bạch Thà người ở Thương Lăng, tỉnh Quảng Đông, nổi tiếng là người chuyên làm việc thiện, đến nỗi mẹ là Trịnh thị, mới nhân lúc ngồi ăn khoai lụi với con, mà nói với Thà rằng:
- Mần việc thiện dĩ nhiên là tốt, nhưng nếu con cứ chăm chú vào đó tới độ không lý gì đến chữ phận duyên, thì ít nữa già háp mần răng mà tính được. Chẳng bậy lắm ư?
Thà nhìn mẹ như đo lường hư thực, rồi từ tốn đáp:
- Văn chưa đạt, võ chưa thông, lại chưa từng trải qua những ngày khổ nhọc, thì dính chữ phu thê làm chi cho đời thêm oan trái? Lại nữa, một khi đã có vợ rồi, thời không phải muốn đi là đi, muốn ở là ở. Thậm chí có khi biết rõ người ta đang hoạn nạn đàng kia, hoặc
chết mẹ bên này, thời cũng không thể hết mình qua cứu giá! Còn bây giờ. Cho dù bão chưa dzô, lũ chưa đến, nhưng thân tâm lúc nào cũng như mũi tên trước sợi dây cung. Chỉ ới lên là phập. Không phải đi thưa về trình. Không phải xuống giọng ỉ ôi, lại càng không phải để ý sắc mặt mà buông lời cho phải. Nay con mẹ đang thoải mái thế này - chẳng những mẹ không được vui - mà lại muốn đẩy xô con vào cung đường bi lụy, là nghĩa làm sao?
Đoạn mở to mắt nhìn mẹ. Trịnh thị, bất chợt hiểu được tâm ý của con, nên bỗng thấm câu
hai phương trời cách biệt. Buồn thiu đáp:
- Thời gian như bóng câu qua cửa, mà không tính chuyện trăm năm, thời đến lúc tuổi chiều xê xế, rồi trông mong tìm gặp, thì trước là không còn lanh lợi để chọn bạn tri âm, sau cái đẹp cái phê cũng nằm mơ không thấy!
Rồi giọt lệ ứa tràn ra khóe mắt. Thà thấy vậy, mới chột dạ nghĩ rằng: "Mẹ già như trái chín cây, gió chơi một phát biết bay đàng nào. Nay mẹ ta có lòng lo lắng, ắt cũng từ tình mẫu tử mà ra, thì ta không thể phụ rẫy ơn sâu mà trốn hoài cho đặng!". Nghĩ vậy, bèn nhỏ giọng mà thưa rằng:
- Duyên nợ do tiền định, mà
tiền chưa định, thì dính được hay sao?
Trịnh thị sợ càng nói thì càng sinh nhiều chuyện, nên vội vã đáp:
- Đã đành là duyên phận, nhưng con cũng phải mở lòng ra, thì cái phận cái duyên mới ào xô bay đến!
Thà ngẫm nghĩ một chút, rồi nhỏ giọng nói:
- Từ thơ qua nhạc. Từ văn đến cuộc sống ngoài đời. Chẳng đặng mấy khi người ta hoan hỉ chuyện
mẹ chồng với nàng dâu. Sao mẹ lại mặn mà quá chừng ra như thế?
Trịnh thị đang quyết tâm là vậy, bất chợt nghe tới chữ nàng dâu, bèn thở ra một cái mà nói rằng:
- Dâu lo cho chồng. Mẹ lo cho con. Tóm tắt là mẹ, dâu, đều lo cho con cả. Có điều. Dâu còn trẻ nên lo theo thời hiện đại. Mẹ luống tuổi rồi nên lo đến hậu vận ngày sau, thành thử cứ đụng chạm lia chia là vì duyên cớ đó!
Đoạn, nắm chặt tay lại mà nói rằng:
- Trời có để cho mẹ sống thêm, thì cũng chẳng còn bao lâu nữa - nhưng mà vợ - thông thường nhỏ tuổi hơn, nên theo lẽ tự nhiên thời sẽ sống với con cho hết đời suốt kiếp. Vậy con phải biết nặng nhẹ cân phân, hiểu điều khinh trọng, đặng tới lúc tuổi hạc cao cao, vẫn còn
dâu lo lắng.
Thà! Phải nói từ nào tới giờ chưa mấy hiểu tình mẫu tử, nhưng nay thấu được mười mươi, bèn rúng động tâm can mà bảo dạ rằng: "Chí nhiều không ngứa. Nợ nhiều không lo, nhưng chuyện nợ duyên thì không thể xuội lơ mà coi được. Lại nữa, mẹ ta tuy chưa cưới con dâu về, nhưng từ trong tâm khảm đã nhường nhịn hết ga, thì ta cũng phải theo gương mà hòa nhã với hiền thê vậy.". Đoạn, ngước mắt nhìn mẹ. Tha thiết nói:
- Mẹ yên tâm. Trên đường làm việc thiện con sẽ mở mắt trông xem, để tìm dâu cho sớm!
Nay nói về Vương đại gia, ở Thiểm tây, nổi tiếng chiêu hiền đãi sĩ. Năm ấy, Thiểm Tây bị thiên tai, khiến bá tánh nơi nơi ùn ùn đi cứu trợ, khiến Vương gia tràn trề cảm xúc, nên hạ lệnh cho bọn gia nhân, hễ thấy cứu trợ viên thì phải mời vô cho sớm. Đã vậy còn dặn đi dặn lại rằng:
- Người ta cũng có vợ con ràng buộc. Cha mẹ phải lo, rồi còn đổ sức mà mưu tìm sinh kế. Bận rộn là vậy, mà còn nghĩ đến chuyện tha nhân, thì thiệt không biết phải ngưỡng mộ bao nhiêu mới là đúng nữa - nên các ngươi - lớp thì lo nấu nướng. Lớp chuẩn bị gối mền. Lớp mời chào đón tận ngoài xa, đặng cho ta đáp đền trong muôn một. Có như thế thì lúc bước vào từ đường, hoặc đứng trước bài vị của tổ tiên, mới bình tâm chắc cú.
Lúc ấy, có Hạ quản gia bước ra trước một bước. Vòng tay thưa rằng:
- Hạ nhân có điều chưa rõ. Có thưa được hay chăng?
Vương đại gia đáp:
- Ngươi theo ta từ hồi còn để chỏm. Nay lên tới quản gia, thì chuyện nhà ta việc gì mà ngươi chưa biết?
Hạ quản gia thưa:
- Bà con nội ngoại của chủ nhân đối với thiên tai thì bình yên vô sự, lại còn nhờ lũ lụt mà bán được mạnh hơn, thì chắc chắn sẽ không nhận được quà của người đi làm từ thiện. Vậy tại sao chủ nhân lại tỏ ra hiếu khách với người ta như thế?
Vương đại gia đưa tay vuốt râu mấy cái, rồi chậm rãi đáp:
- Người ta sở dĩ làm được việc thiện là nhờ có tấm lòng, mà một khi có tấm lòng thì cõi dương gian chẳng còn chi quý hơn nữa. Ta mời họ một bữa cơm, cung cấp một chỗ ngủ, cũng chỉ là cách đáp lại phần nào tấm lòng thiện hảo của họ đó thôi. Chớ không phải vì thân tộc của ta hưởng lợi, hoặc bằng hữu mánh dzô, hay lợi dụng họ để tỏ ra mình cũng đầy ắp nhân nghĩa. Cho nên các ngươi khi đón được người ta về, thì phải lấy chân tâm ra mà đối đãi. Chớ đừng ỷ vào gia thế của dòng họ nhà ta, mà làm điều khinh suất, thì trước là bị rầy, sau là bị la, sau nữa công việc ở đây cũng không cần ngươi đến nữa
Nay nói về A Hỉ, là con gái duy nhất của Vương đại gia, năm ấy lên mười sáu tuổi, có tỳ nữ Thanh Mai luôn theo hầu, lại cho ở chung một chỗ, đã vậy Thanh Mai chẳng những khéo chiều, lại còn có thể sai bằng mắt bảo bằng mi, nên rất được A Hỉ vui lòng thương mến.
Ngày nọ, Thanh Mai bất chợt đi ngang qua nhà bếp, thấy một thanh niên ngồi trên hòn đá đang ăn cháo, nét mặt phương phi, ánh mắt dõi vào cõi xa xăm vô tận, bèn chạy vội tới Hạ quản gia, chỉ vào người ấy. Thảng thốt nói:
- Người thanh niên này tên gì? Ở đâu? Gia cảnh thế nào? Xin đại nhân vào lời cho tiểu nhân biết rõ. Có đặng hay chăng?
Hạ quản gia đáp:
- Được! Được! Người thanh niên này họ Trịnh, tên Bạch Thà, quê ở Thương Lăng, thích làm việc từ thiện. Lấy niềm vui của người làm niềm vui của mình. Lấy nỗi khổ của người làm nỗi khổ của mình, nên luôn được mọi người yêu kính. Còn về gia cảnh thì tôi không được rõ, nhưng nhẫn không có ở tay, thì chắc chắn chữ nợ duyên phải là
chưa ôm dính.
Thanh Mai nghe vậy, mau mắn buông lời cám ơn, rồi chạy về gặp lúc A Hỉ đang ngồi dũa móng tay, bèn gấp gáp nói:
- Ông khách nhà ta là người phi thường. Cầm bằng như tiểu thư không muốn chuyện lương duyên thì thôi, còn muốn chọn thời ông ta là người xứng đáng nhất.
A Hỉ đang ngồi làm đẹp, bất chợt đụng chuyện lương duyên, bèn bối rối nói:
- Chưa gặp mặt. Chưa thấu tình. Chưa hiểu đặng hoàn cảnh của người ta, mà nhào vô ôm đại. Chẳng bậy lắm ư?
Thanh Mai thở phào đáp:
- Cơ hội trước mắt không tận dụng. Lỡ mai này mất mẹ nó đi, thì có hối tiếc cũng không sao mà cứu vãn được. Lại nữa, mình thấy được thì người khác cũng thấy được. Mình muốn dzớt thì người khác cũng muốn dzớt. Xin tiểu thư cẩn trọng cho.
A Hỉ thấy Thanh Mai ca ngợi người thanh niên như vậy, bèn thắc mắc hỏi:
- Ngươi hay theo ta đi thâu hụi, mua sắm, lại còn gặp bọn tá điền để ăn cá nướng cá thui, mà ta chưa hề nghe ngươi ca tụng người nào. Còn người này chẳng những ngươi đã hết lời ca tụng, mà lại còn muốn họ trở thành phu quân của ta, là nghĩa làm sao?
Thanh Mai mơ màng đáp:
- Ngồi trên cục đá mà bình thản ăn cháo, là không đặt nặng chuyện vật chất. Dõi mắt vào cõi mông lung, là đang còn mơ mộng. Một người sống trong xã hội đua chen, thường dựa vô vật chất để làm thước đo sự thành công của một đời người - mà còn biết mơ mộng - thì không nói cũng hiểu được tâm hồn của người ta dạt dào cảm xúc, mà một khi dạt dào cảm xúc, thì tình nghĩa phu thê lúc nào cũng nồng nàn cháy bỏng. Nhất mực ngon cơm. Chớ không lạnh buốt như
trời vô tháng tám!
A Hỉ nghe Thanh Mai thuyết cho một tràng như vậy, bèn hết sức ngạc nhiên, rồi bất chợt nhớ ra việc gì. Hốt hoảng nói:
- Có bị phỏng mới biết lửa nóng. Có sập nhà mới biết sợ phong ba. Có đói rét mới biết thế nào là cơ khổ. Có bị ruồng rẫy bỏ bê mới mần thơ tình hay được. Nay ngươi theo ta hầu hạ bấy lâu, biết được ngươi chưa có chồng, lại chưa có người yêu, cũng chưa hề nhận được thư tình, lại càng không biết thế nào là hò hẹn nơi gốc mít đợi nhau, thì những nhận xét trên làm sao ngươi có?
Thanh Mai thở ra một cái, rồi nhỏ nhẹ đáp:
- Nữ thập tam nam thập lục. Nay nô tỳ đã quá tuổi mười ba. Mần răng không biết?
A Hỉ xua tay đáp:
- Biết là biết vậy, nhưng khổng thể biết được cái gì là nồng nàn cháy bỏng. Cái gì là nhất mực ngon cơm. Cái gì là dạt dào cảm xúc. Vậy ta hỏi ngươi: Do đâu mà ngươi lại quả quyết lẹ làng mau như thế?
Thanh Mai nghe chủ nhân hỏi vậy, liền đưa tay vào túi áo trong, lôi ra một bịch được gói kỹ, đưa cho A Hỉ mà nói rằng:
- Mọi hiểu biết của nô tỳ đều ở đó mà ra. Xin tiểu thư cứ tùy nghi tra cứu.
A Hỉ nóng lòng mở ra, thời thấy cơ man nào là phim bộ, bèn trố mắt nói:
- Thứ này ta tụng hằng đêm, nhưng sao không thấy những điều như ngươi thấy?
Thanh Mai nhỏ giọng đáp:
- Thái thái giỏi nghề pha nước mắm. Tiểu thư đứng xem bao lần, nhưng cũng khó lòng pha được như thái thái. Cũng vậy, trường đời thời rộng, bài học thời nhiều. Chỉ là thu lượm đươc hay không? Chớ thực ra chẳng có gì khó cả
- Ý Thu-
Lời tác giả: Câu chuyện sau đây kể về chị Hồng Ngọc, người từng được xem là Vietnamese Beautiful Lady trong cái nhìn của một số người Mỹ làm việc ở Việt Nam thời chiến tranh. Trước năm 1975, Hồng Ngọc làm việc cho US Navy Headquaters, sau đó chuyển qua làm cho Defense Attache Office gọi tắt là DAO trực thuộc US Embassy. Chị đã có mặt trong chuyến bay Baby Lift Operations vào ngày 06/04/1975. Năm 1954, khi Việt Nam bị chia đôi, gia đình Ngọc đã di cư từ Bắc vào Nam. Mẹ Ngọc khóc sướt mướt giã biệt người em gái ở lại. Trên chiếc máy bay chở những người là người bà thì thầm một mình: "Chị sẽ về thăm em, giờ chị đi đây, không biết tương lai về đâu?" Nhưng rồi cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc bùng nổ và kéo dài. Bà hy vọng được viết những lá thư gởi về cho em ở Thái Nguyên, giờ kể như nghìn trùng xa cách....
*
Tại miền Nam biết bao nhiêu thanh niên lại phải từ giã gia đình dấn thân ra chiến trường bảo vệ quê hương trước làn sóng xâm lăng của cộng sản bắc phương. Mẹ Ngọc một lần nữa lại phải rơi nước mắt, hai đứa con trai của bà gia nhập quân đội.
- Hai đứa bay đi, mẹ lo quá. Lạy trời cho tai qua nạn khỏi.
- Ôi! Mẹ lo gì, chúng con khỏe như trâu, tài ba có thừa, súng đạn còn phải sợ.
- Tụi bây đừng vạ mồm vạ miệng.
Chiến tranh ngày càng khốc liệt vào những năm sau này. Việt Cộng đánh phá, pháo kích, tấn công cả vào Saigon ngay Tết Mậu Thân 1968. Những năm tiếp theo, cả miền Nam triền miên trong khói lửa. Mỹ đổ quân vào Việt Nam càng ngày càng đông. Nhiều cơ quan hành chánh của Mỹ mở cửa ngay tại trung tâm Saigon.
Ngọc đã tốt nghiệp xong bậc trung học. Gia đình đông em, Ngọc quyết định học một nghề cấp tốc để ra đi làm. Cầm tấm bằng thư ký kế toán trong tay, Ngọc đến cơ quan US Navy Headquaters số 2 ở đường Duy Tân, đối diện với Dinh Độc Lập. Ông John vừa nhìn thấy Ngọc là tuyển dụng liền, không cần biết đối tượng ra sao.
Ngọc, với nét đẹp trang nhã, mái tóc đen bồng bềnh chấm qua vai, đôi mắt to long lanh như thu hút lòng người, kèm theo giọng nói rụt rè, bẽn lẽn khiến ông John ngơ ngẩn. Đi đến bất cứ cơ quan nào ông cũng cho Ngọc đi theo. Vì được ưu đãi nên ông gởi Ngọc đi học nhiều nơi để gia tăng tay nghề như kế toán, tốc ký, đặc biệt là lớp Technical Publication.
Sau đó vài năm, Ngọc chuyển qua cơ quan Defense Attache Office trực thuộc tòa đại sứ Hoa Kỳ. Ông Paul đã biết Ngọc từ trước, tay bắt mặt mừng. Ông nói pha vẻ màu mè:
-Chào người đẹp Hồng Ngọc. Ngọn gió lành nào thổi cô về đây? Chúc mừng cô làm việc cho chúng tôi.
Ngọc vừa làm việc văn phòng, vừa phải giao tế tiếp xúc với những nhân vật từ Mỹ đến Việt Nam như bà Leslie, bà Johnson, bà Adams với trọng trách bảo trợ cho các hội từ thiện, đặc biệt là các em mồ côi, các em bị tàn tật.
Những ngày tháng sau cùng của cuộc chiến, tình hình ngày càng thêm khốc liệt. Tin tức thất trận đến dồn dập và lãnh thổ miền Nam ngày càng thu hẹp. Các tỉnh miền Cao nguyên, các tỉnh miền Trung như Huế, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Plei Ku, Kom Tum, Nha Trang... đều rơi vào tay CS. Mùa xuân 1975 cái không khí Tết thật buồn tẻ và ảm đạm. Người ta bàn tán xôn xao, đổ xô ra ngoài tìm đường vượt biên, lệnh giới nghiêm được ban hành một cách triệt để. Ông Trung tá Henry mới tới văn phòng để thay thế ông Paul.
-Cô là Ngọc phải không?
-Phải. Hân hạnh được biết ông.
-Chiến dịch di tản bắt đầu. Chúng tôi sẽ rút lui và đóng cửa văn phòng. Nếu cô muốn đi Mỹ cô sẽ đi vào ngày 4/4 với những trẻ em mồ côi.
Ngọc trả lời ngay không suy nghĩ:
-Tôi muốn đi. Vậy gia đình tôi có thể cùng đi không?
-Những trẻ em Việt Nam cần có cô để an ủi chúng. Tôi sắp xếp gia đình cô sẽ đi một chuyến bay khác.
Ông Henry chỉ cho Ngọc những thùng giấy chồng chất lên nhau chật cả gian phòng nhỏ.
-Cô mở ra mà xem trong ấy chứa toàn tiền Việt Cộng. Cô muốn lấy bao nhiêu thì lấy mang về cho người nhà hay những ai còn kẹt lại để xài sau này.
Chưa hết, ông Henry bóc ra một thùng tiền còn mới tinh đủ màu sắc xanh đỏ tím vàng một mặt in hình ông Hồ già. Ngọc lạnh cả người.
-Tình hình không biết thực hư, ai mất ai còn chưa rõ. Tôi sợ lắm, dính vô thứ quỷ này không khéo rũ tù.
Ông Henry phá lên cười, trở giọng khôi hài:
-Cô Ngọc ơi là cô Ngọc. Tiền mà cô còn chê thật vàng không sợ lửa. Tôi đề nghị cô nên đổi tên là Diamond, Golden N, Emerald, Ruby chẳng hạn.
Cả phòng đều quay nhìn Ngọc rồi phá lên cười về lối nói chuyện dí dỏm của ông Henry. Giọng Ngọc trở nên nghiêm trang:
-Vì ông mới đổi về nên ông không biết tên tôi cũng có nghĩa là một loại ngọc mắc tiền và rất quý giá.
Ông Henry ngạc nhiên nhìn Ngọc:
-Thật vậy à, thế mà tôi không rõ. Cô là một cánh hoa tươi sắc, giờ đây vì chiến tranh mà phải bôn ba thật đau lòng.
Đầu tháng 4/75 Ngọc ra đón bà Dorothy, bà Kirk, bà Joan và và Stanford từ cơ quan chính phủ khác sang chơi, đưa các bà đi mua sắm, sắp xếp chỗ ở. Chỉ còn bốn ngày nữa là Ngọc, ba bà ngoại quốc, một số nhân viên và các trẻ em mồ côi sẽ trở về Mỹ. Ngọc thu xếp hành lý, mẹ Ngọc nước mắt chảy giòng giòng:
-Kẻ đi người ở thế này, buồn đến đứt ruột.
-Mẹ yên chí sẽ có người đến đón mẹ.
-Hai em con còn kẹt trong quân đội, lẽ nào mẹ bỏ chúng. Đã không đi thì thôi, đi thì phải đi hết. Mẹ già rồi đâu cần gì.
Ngày 2/4/75 Trung tá Henry đưa cho Ngọc một xấp tài liệu về danh sách những người được đi Mỹ.
-Cô đánh máy dùm tôi tên những người này, đáng lẽ cô đi vào ngày 4/4 nhưng còn nhiều việc cần đến cô, vì thế cô sẽ đi chung với các em mồ côi bị khuyết tật vào ngày 6/4. Sự thay đổi này có làm cho cô phiền lòng không?
-Ông yên chí. Tôi đi chuyến bay nào cũng được.
-Mục đích của chúng tôi mang các em qua Mỹ để các em được giải phẫu khuyết tật và các em có một tương lai sáng lạn hơn. Nhiều gia đình Mỹ sẽ làm thủ tục nhận các em về nuôi. Ở xứ Mỹ chúng tôi, con nuôi cũng được nuôi nấng cẩn thận như con ruột. Các em đang thiếu thốn đủ mọi thứ, nhất là về mặt tinh thần. Tôi hy vọng các em sẽ tìm được niềm vui trong một mái ấm gia đình.
Ngọc cảm động về lời nói của ông Henrỵ
-Tôi hiểu việc làm của các ông. Khi các em lớn lên và trưởng thành trong môi trường mới, các em sẽ cảm nhận việc làm có ý nghĩa này.
Ngày 4/4/75 Ngọc cùng ông Henry đưa tiễn các bà Dorothy, Bà Standford, bà Kirk và nhiều nhân viên chính phủ khác ra phi trường Tân Sơn Nhất lên đường về Mỹ.
Sau khi chuyến bay cất cánh, Ngọc cùng vài đồng nghiệp đang mua hàng trong phi trường, bỗng nghe một tiếng nổ thật lớn. Nhìn từ đằng xa, thật xa, chiếc máy bay bốc cháy, khói đen cuồn cuộn trải dài trên vòm trời. Mọi người trong phi trường hoảng hốt tìm cách tháo chạy. Về đến văn phòng tin cho biết một số nhân viên chính phủ cộng thêm 300 trẻ em mồ côi mang về Mỹ nay đã thành tro bụi.
Ngọc hỏi ông Henry:
-Tôi lấy làm thắc mắc tại sao máy bay bị rớt? Có phải Việt Cộng gài bom không?
-Hiện tại tình hình rất phức tạp, chúng tôi lo di tản, khó có thể kết luận được trong lúc này, có thể là do tai nạn ngẫu nhiên mà thôi. Tuy nhiên, toàn bộ chuyến máy bay không phải là chết hết, cũng còn một số người sống sót. Tôi sẽ hỏi thăm xem nhân viên của văn phòng ta, ai còn ai mất.
Ngay 5/4/75 Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã cử người làm lễ tưởng niệm chuyến bay C5A bị rớt. Hồng Ngọc thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nghẹn ngào nói với ông Henry:
-Nếu ông không đổi lịch trình bay, tôi đã chết mất xác rồi. Thật tôi không thể đoán được sự việc xảy đến trong tương lai! Nhưng dù sao cái chết của họ không phải là điều đáng tiếc, họ đã hy sinh và làm việc vì nhân loại. Chúng ta đều tưởng nhớ họ, thương tiếc những trẻ em mồ côi có mặt trong chuyến bay.
-Ngày mai cô sẽ lên đường. Tôi khuyên cô không nên về nhà thăm gia đình trong lúc này, vì vụ máy bay vừa nổ không rõ nguyên nhân gì, có khi cô về thăm gia đình rồi kẹt lại hối hận thì cũng đã muộn.
Nghe ông nói Ngọc buồn thấm thía rơi nước mắt, trái tim đau nhói vì biết chắc mình sẽ xa gia đình, xa quê hương thật sự, mong rằng chuyến bay của mình bình an vô sự. Ngày 6/4/1975 Ngọc rời Việt Nam, bắt đầu cuộc hành trình từ phi trường Tân Sơn Nhất đến Clark Air Force Base ở Philippines. Sau hai ngày nghỉ ngơi Ngọc đổi qua một chuyến bay khác và nhập chung với đoàn người chuyển tiếp trên đường về nước Mỹ. Có khoảng trên 200 em mồ côi Việt Nam đứa nhỏ nhất là 3 tháng. Ngọc quan sát từng em, có đứa sứt môi, đứa mắt lồi, đứa chân khập khiễng.... có lẽ vì thế mà cha mẹ đã bỏ chúng vào cô nhi viện chăng! Ban đầu chỉ có vài đứa khóc, rồi đứa này bắt chước đứa kia, khóc um cả lên.
-Này đừng khóc! Chị là Hồng Ngọc, chị có mặt trên chuyến bay này để giúp đỡ các em.
Một đứa ngồi gần Ngọc lên tiếng:
-Em nhớ mẹ lắm! Mẹ không thương em, mẹ chỉ thương em bé thôi.
-Mẹ nào cũng thương con. Chắc vì lý do nào đó mà mẹ em phải gởi em vào cô nhi viện.
-Nhưng em không muốn xa mẹ.
Ngọc trấn an con bé:
-Khi nào tới Mỹ, em ráng nghe lời cha mẹ mới, học giỏi, lớn lên em sẽ về tìm mẹ lo gì, chị sợ lúc đó em quên mất người mẹ nghèo khó của em ở Việt Nam.
Ngọc nói thêm, không hiểu con bé có hiểu hết ý của Ngọc không:
-Chị và em là những kẻ xa quê hương, nay phải ăn nhờ ở đậu ở xứ người, thật buồn em nhỉ! Ai cũng đều mất mát một mái gia đình, bây giờ lại mất thêm một tổ quốc. Ờ tại sao em lại vào viện mồ côi? Em tên gì?
-Em tên Trang, 11 tuổi. Ba mẹ em ly dị bỏ em vào trong Cô nhi viện. Thỉnh thoảng họ đến thăm em. Lần nào mẹ về, em đều khóc.
Chuyến bay đáp xuống Hawaii, con bé vẫn bám chặt lấy Ngọc, tiếng trẻ con khóc nức nở, đứa này vừa nín thì tiếng khóc khác lại cất lên. Nhiều ông bà người Mỹ thay phiên nhau dỗ dành chúng. Ngọc ôm đứa bé 5 tháng trên tay, đầy mùi sữa thơm, nó chẳng biết gì ngoài việc đến giờ cần phải ăn, nó há hốc miệng, kêu "oeo oeo" nhiều tiếng nghe thật đáng thương. Ngọc động lòng trắc ẩn, cảm thương cho những trẻ thơ lạc loài, bị bỏ rơi ở một nơi nghèo khó thiếu tình thương của cha mẹ.
Nay những đứa trẻ này lại được một nơi khác từ bên kia bờ đại dương, cách xa hàng ngàn dặm, giơ bàn tay nhân ái, nhặt chúng từ các viện mồ côi, mang chúng về nước Mỹ nuôi nấng. Ngọc hôn phớt nhẹ lên má đứa bé thì thầm: "Rồi em sẽ có cha có mẹ".
Rời Hawaii, chuyến bay cất cánh đến Travis Air Force Base ở San Francisco thuộc tiểu bang California. Ngày 10/4/75 bà Bonbet ra đón Ngọc.
Làm thủ tục giấy tờ xong. Ngọc từ giã các em.
-Quả đất tròn, chị em chúng ta sẽ có ngày gặp lại.
Con bé níu tay Ngọc òa lên khóc:
-Chị bỏ em sao? Em không có mẹ, bây giờ lại mất chị!
Hai chị em ôm lấy nhau mà khóc.
Ngày 18/4/75 Ngọc trình diện ở Naval Shipyard thuộc Long Beach, vì đường xa không thuận tiện, Ngọc chuyển về Naval Weapon Station ở Seal Beach.
Nơi đây mọi người đều đổ dồn về nhìn Ngọc khi biết Ngọc là người Việt Nam đầu tiên làm ở đây. Ông Davis tự giới thiệu mình là người mọi da đỏ chính gốc. Trên đầu ông cắm đầy lông gà đủ màu sắc sặc sỡ. Ông nói giọng hân hoan:
-Cô thật là vinh dự khi gặp được người Mỹ bản xứ (you're honor to meet first American). Nhân viên chúng tôi làm việc trong sự cộng đồng, hợp tác chặt chẽ. Tuy vậy để tránh sự kỳ thị cô nên theo học một lớp làm thế nào phân biệt được sự đối xử khác nhau giữa người này và người kia. Lớp học kéo dài 2 tuần. Sau khi học có chứng chỉ. Cô còn điều gì hỏi không?
-Những điều ông nói hoàn toàn mới mẻ đối với tôi, vậy làm thế nào để phân biệt được sự kỳ thị.
-Tôi cho một thí dụ về sự kỳ thị. Như chị Linda thấy tôi chào hỏi nhưng khi nhìn thấy cô Ngọc thì quay phắt người đi. Một thí dụ khác như chị Linda giao việc cho người khác thì ít mà giao công việc làm cho cô thì nhiều. Cô mới tới cần phải học hỏi nhiều lắm.
Sau lớp học 2 tuần, Ngọc bắt tay vào làm việc. Thời tổng thống Ford, cơ quan chỗ Ngọc không có việc làm nhiều. Vì thế mọi người có thể tự xin thôi việc tức là reduction in force hay gọi tắt là RIF, layoff. Ai đời chỉ có một công việc mà phải chia năm xẻ bảy người cùng làm. Ngọc đi ra đi vô cho đủ 8 tiếng rồi về.
Tin tức về Việt Nam được các đài truyền thanh, truyền hình, báo chí phổ biến khắp nơi. Người Mỹ rút hết về nước. Cộng sản thừa cơ đánh phá, pháo kích vào Saigon.
Ngày 30/4/75, ngày đau buồn của miền Nam Việt Nam, nhìn trên truyền hình, cảnh chiến xa Việt Cộng tiến vào dinh Độc Lập, Ngọc khóc hết nước mắt, cáo bịnh không thể đến chỗ làm. Trong lúc đau buồn, bà Bonnet là người an ủi Ngọc nhiều nhất. Bà thường dắt Ngọc đến trại Pendleton tìm người thân.
-Không có lý do gì gia đình chị lại không đi, vì tôi nghe ông Henry cho người về đón mà!
-Có lẽ bà mẹ tôi đổi ý, chỉ cần thiếu một người con là bà không đi đâu.
*
Câu chuyện kể trên đã xảy ra cách đây gần 29 năm. Để viết lại chuyện này, mới đây Ngọc đã gọi điện thoại cho bà Adams, hiện đang sống tại San Diego. Nhận ra Ngọc bà mừng rỡ:
-Sao! Ngọc đấy à! Có dịp nào xuống chơi với tôi, tuổi già tới nơi, thật ngán ngẩm, nghĩ lại thời ở Saigon, vui biết mấy.
-Tôi chuẩn bị viết hồi ký, không hiểu bà còn nhớ gì về chuyến máy bay bị rớt vào tháng 4/75 ở Việt Nam không?
-Tôi nhớ chứ, nhớ thật rõ như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua bởi vì văn phòng chúng ta mất rất nhiều người trong chuyến đi đó. Chị viết đi, vì đó là một kỷ niệm đau buồn nhưng rất quý giá.
Hàn huyên với bà Adams một lúc rồi nàng chào tạm biệt bà.
Ngọc nhìn qua cửa sổ, ngoài trời âm u, cảnh tượng buồn thê lương giống như ngày tai nạn xảy ra cho chuyến bay định mệnh. Nàng thở dài nhớ đến những người bạn đã mất, nhớ Joan và Barbara.
Ngọc đi ra vườn sau nhìn trời mông lung, thấy cuộc đời thật vô thường, hôm nay còn đây ngày mai đi mất.