Powered by Bravenet Bravenet Blog

Tag Board

Tran Quyen: 30 tháng TƯ sắp đến xin quý báo vui lòng phổ biến 11 audio này để bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo Mời nghe truyện audio của ông Tây Pierre Darcourt nói về Miền Nam những năm 70 và biến cố tháng TƯ DENTất cả 11 truyện dịch từ cuốn sách của ông Tây này được để trong Mề Gà folder :http://www.megaupload.com/?f=83B96WE1Truyện nghe giúp ta biết thêm cái nhìn của người ngoài đối với ngày 30 tháng T
Lyn: just passing through saying hi.

Please type in the four characters shown in the black box.

Wednesday, April 1st 2009

2:20 PM

Pháp Luật Phổ Thông SGT 605

- LS Lê Đình Hồ-

[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]



Hỏi (Ông Trân H.V): Cách đây hơn một năm con tôi được một người bạn giới thiệu đến làm việc tại một công ty nhập cảng thực phẩm Á Châu. Thực ra, đa số là từ Việt Nam.

Sau một thời gian làm việc, con tôi được giao cho trách nhiệm nhận lãnh hàng hóa từ bến cảng. Vì con tôi có tiền án hình sự, nên cháu đã dùng tên giả để liên hệ với hải quan.

Người chủ thường xuyên ở bên VN và lo sắp xếp việc hàng xuống tàu còn con của tôi ở bên này thì lo các thủ tục để cho hàng xuống và vào kho mà người chủ đã mướn. Công việc của cháu là nhận hàng và thỉnh thỏang xuất kho.

Cháu không hề hay biết trong các mặt hàng đó có lẫn lộn một số hàng có chứa ma túy. Cách đây gần 3 tháng cháu bị bắt và bị cáo buộc cố tình nhập lậu ma túy.

Cháu đã ra tòa và không chịu nhận tội. Hiện đang bị giam giữ chờ ngày xét xử.

Xin LS cho biết là trong trường hợp đó tòa có thể kết tội cháu hay không?


*

Trả lời: Trong vụ Swanson v R [2008]NSWCCA 56, “bị cáo dính dáng đến việc nhập lậu ma túy, cùng với một số đồng phạm, ngòai những người cùng bị xét xử với bị cáo. Ít nhất là có một trong những đồng phạm, tên Alchikh, đã nhận tội đồng lõa nhập lậu ma túy. Những khác được xét xử trong những vụ xử riêng biệt” (The accused was engaged in the drug importation, together with a number of co-offenders, besides whose with whom he stood trial. At least one of the co-offenders, Alchikl, pleaded guilty to a charge of conspiracy to import the drug. Others were tried in separate proceedings).

“Kế họach nhập gần 165,000 viên thuốc lắc, tương đương gần 40 kilograms, được giấu trong việc chuyên chở bằng tàu 54 tủ lạnh. Thuốc lắc được giấu kín trong các cánh cửa của 6 trong 54 tủ lạnh. Chuyến hàng này được chuyển cho 'AlphaStar Australia'“ (The plan was to import almost 165,000 ecstasy tablets, amounting to just under 40 kilograms, concealed in a shipment of 54 refrigerators. The tablets were secreted in the doors of 6 of the 54 refrigerators. The shipment was consigned to 'AlphaStar Australia').

“Hàng đến Melbourne ngày 3.12.2003. Cảnh sát liên bang Uùc biết được việc chuyển hàng và đã tìm cách lấy số thuốc ra và thay vào đó những gói thuốc nhìn thì giống nhưng vô hại” (Australian Federal Police were aware of the shipment and took steps to remove the drug and substitute similar looking harmless packages).

“Vào hai dịp ngay trước khi hàng đến [20.10 & 14.11] hai tủ lạnh mẫu [không có ma túy trong đó] được gửi, đề địa chỉ giống với địa chỉ của nơi nhận hàng. Điều này là để thử xem liệu việc nhập lậu có bị lưu ý bởi cảnh sát hay không. Việc chuyển giao tủ lạnh mẫu thứ nhất do Alkarim nhận lãnh. Bị cáo nhận việc chuyển tủ lạnh mẫu thứ nhì” (On two occasions prior to the arrival of the shipment [20.10 & 14.11] two sample refrigerators [unencumbered by drugs] were sent, addressed to the same consignee. This was to test whether the importation would be likely to be subject to law enforcement attention. Delivery of the first sample was received by Alkarim. The accused took delivery of the second).

“Bị cáo đóng vai trò quan trọng trong sự sắp xếp việc nhập lậu. Từ đầu đến cuối, ngọai trừ một lần, việc liên lạc với các thành viên khác trong nhóm đều qua Alchikh” (The accused played a significant role in managing the importation. Throughout, with one exception, his dealings with other members of the syndicate were through Alchikh).

Bị cáo mướn chỗ tại Dandenong, Victoria, để chất tủ lạnh sau khi Quan Thuế kiểm tra xong. Đương sự làm điều này với tên giả, Dale Rodriguez, thuộc AlphaStar Australia. Khi liên lạc với nhân viên nơi chứa hàng, bị cáo dùng một tên giả khác, Steve Miller. Bị cáo tạo ra giấy tờ với tên AlphaStar Australia rồi đăng ký tên thương nghiệp và dùng địa chỉ PO Box tại một vùng ngọai ô.

Trên giấy tờ của công ty cũng có số điện thọai để liên lạc. Đây là số điện thọai di động của bị cáo. Bị cáo cũng mở trương mục dưới tên Dale Rodgiguez, với địa chỉ giả. Từ ngày 24.11.2003 bị cáo đã dùng điện thọai này để liên lạc bất cứ sự giao dịch nào liên hệ đến việc nhập cảng các tủ lạnh đó.

Mặc dầu bị cáo không liên quan đến mẫu nhập lậu lần thứ nhất, nhưng đã chuyển giao mẫu tủ lạnh thứ hai và đã làm điều này với tên giả là Steve Miller.

“Bị cáo trả tiền cho việc kiểm tra của hải quan, dùng money orders không thể truy nguyên được và đưa địa chỉ hộp thơ tại bưu điện Lakemba. Sau sự kiểm tra của hải quan bị cáo sắp xếp để chuyển các tủ lạnh đến nhà kho. Bị cáo bỏ ra nhiều thì giờ để sắp xếp việc vận chuyển các tủ lạnh từ Melbourne đến Sydney. Khi làm điều đó bị cáo dùng tên Steve Miller. Bất hạnh thay, người cuối cùng mà bị cáo giao tiếp, với tên là Andy Platten, là một cảnh sát chìm” (The accused paid for Customs clearence, using non-traceable money orders and gave a Lakemba post office box address. After Customs clearence he arranged for removal of the refrigerators to the storage depot. He spent considerable time arranging transport of the refrigerators from Melbourne to Sydney. In doing so he used the name steve Miller. Unfortunately, the person with whom he ultimately dealt, under the name Andy Platten, was an undercover police officer).

Bị cáo cùng các đồng phạm bị bắt sau đó, nhưng không chịu nhận tội. Vào ngày 1.8.2005 bị cáo cùng các đồng phạm bị cáo buộc tội nhập lậu ma túy với số lượng không ít hơn số lượng thương mãi lớn.

Vào ngày 20.10.2005, bồi thẩm đòan đã đưa ra phán quyết có tội. Tuy nhiên, bị cáo đã kháng án vì cho rằng phán quyết của bồi thẩm đòan là bất hợp lý. Lý do quan trọng kháng mà bị cáo đưa ra là chứng cớ không đủ sức thuyết phục bồi thẩm đòan để buộc tội bị cáo vì bằng chứng còn nhiều điểm nghi ngờ không thể chấp nhận được. Alchikh đã khai rằng bị cáo không biết gì đến việc thuốc lắc được bỏ vào cửa của 6 tủ lạnh, và Alchikh đã giữ kín việc này không cho bị cáo biết. Alchikh cũng khai rằng bị cáo cũng tham dự trong nhiều business hợp pháp khác như việc nhập cảng kem đánh răng, film, cùng các thứ khác. Riêng việc khai tên giả thì bị cáo cho rằng bị cáo đã từng gặp rắc rối với hải quan trước đây nên đã khai tên giả để khỏi gặp phiền tóai.

Tòa Kháng Aùn Hình Sự đã đưa ra phán quyết là xét xử lại, và vụ án đang chờ để được xử lại.

Dựa vào phán quyết như vừa được trình bày ở trên ông có thể thấy được rằng để có thể buộc tội cháu, công tố viện cần phải trưng dẫn được bằng chứng là cháu đã phạm tội một cách hiễn nhiên và không còn gì để nghi ngờ. Hai yếu tố cần phải hội đủ để kết tội hình sự, đó là hành vi phạm pháp, và ý định phạm tội. Nếu cháu vô tình, hòan tòan không hề hay biết là một số mặt hàng có cất giấu ma túy ở trong đó, và đã giao cho những mặt hàng đó cho khách hàng thì hành vi đó không thể cấu thành tội trạng hình sự được vì cháu không hề có ý định phạm pháp.

Thư của ông quá ngắn và không nêu rõ tình tiết nên chúng tôi không thể cố vấn tường tận cho ông được. Nếu ông có thì giờ xin ông gửi cho chúng tôi tòan bỗ hồ sơ để chúng tôi có thể giải đáp tường tận hơn.
 

0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Wednesday, April 1st 2009

2:17 PM

Đi Đâu Mà Trật

- Mõ Sàigòn-

Đặng Thành Đức, người ở Khai Phong, tỉnh Hà Nam, nghe chúng bạn bàn chuyện, cho rằng huyện Duyên Châu ở Sơn Đông công việc nhiều mà sinh hoạt lại rẻ, thêm con gái thùy mị đoan trang, nên trong lòng ngập tràn khoan khoái. Nhân lúc mẹ vừa hốt hụi xong, bèn nói với mẹ rằng:

- Quốc gia có lúc thịnh lúc suy, nhưng vợ đẹp không phải lúc nào cũng có. Chẳng phải vậy sao?

Mẹ của Đức là Hàn thị, sửng sốt đáp:

- Vợ đẹp dành để… tiêu tiền. Gia đình mình chỉ mới đủ ăn. Hà cớ chi lại mộng mị xa vời ra như thế?

Đức cười to đáp:

- Mẹ đừng lo. Cũng như ở đây coi vàng là quý, nhưng khi đến mỏ vàng, thì cái quý ấy đã không còn nguyên vẹn. Cũng vậy, người đẹp ở đây sở dĩ làm cao, là vì người đẹp không nhiều, chớ đến nơi người nào cũng đẹp. Còn cao giá đặng hay sao?

Hàn thị nghe con trả lời một cách mạnh bạo như vậy, bèn trố mắt nói:

- Con từ nào tới giờ chỉ lo vườn tược, chăm sóc hoa màu, mà bây giờ bỗng đổi hệ đổi tông. Thiệt khiến cho mẹ khó ngăn điều thắc mắc!

Đức nhìn mẹ, thấy cả trời ngạc nhiên, bèn thưa với mẹ rằng:

- Chăm hoa để mưu sinh. Còn để ý tới… hoa người là làm cho đời mình nhiều ý nghĩa. Con đã tới tuổi chăm người, mà mẹ vẫn an nhiên, thì thiệt không biết mẫu tử thiêng liêng phải nghĩ làm sao cho đúng?

Hàn thị. Nghe con trả lời trớt quớt như vậy, bèn rúng động châu thân. Thảng thốt nghĩ rằng: "Trời không ngừng có phong ba, thì người cũng sáng phước chiều họa. Tuy là mẫu tử tình thâm, nhưng không phải chỉ trong một chốc mà giải thích cho con hiểu tường hiểu tận. Lại nữa, con có trách mình - thì cũng là dịp cho mình suy xét - hầu có thể trở thành gương tốt cho vợ nó về sau…". Nghĩ vậy, bèn cố tạo vẻ mặt hòa dịu. Thân thiết nói:

- Ở đời con sẽ gặp rất nhiều người, nhưng duy nhất chỉ có một người sẽ ở với con mà thôi. Nếu chọn đúng, con phẻ phắn một đời, bằng ngược lại, con ân hận quên thôi. Suốt đời trong tăm tối!

Rồi thở ra một cái, mà nói rằng:

- Con tới tuổi chăm người. Vậy người ở đâu? Sao chưa bao giờ nghe nói đến?

Đức lật đật đáp:

- Ở huyện Duyên Châu, tỉnh Sơn Đông. Con sẽ đến đấy đưa về, đặng mẫu tử gặp nhau, cho nồng ấm có nhiều hơn lúc trước.

Hàn thị. Nghe tới đâu hoảng hồn theo tới đó, nhưng sợ ném chuột vỡ đồ, chạm tự ái của con, nên nắm chặt đôi bàn tay lại. Gắng gượng nói:

- Cái gì con khiêng lên có thể bỏ xuống được, nhưng chuyện tình cảm. Không thể muốn bỏ là bỏ xuống được đâu. Con còn nhỏ, tương lai còn dài, thêm trường đời chưa trải. Mẹ chỉ sợ trong một phút yếu lòng, hoặc nông cạn nghĩ suy, rồi va vào điều tủi nhục, thì trước là con hổng đặng vui, sau đến lúc nhắm mắt cũng chẳng yên lòng đi xuống!

Thành Đức. Nghe mẹ bàn ra như vậy, bèn xoay chuyển ý nghĩ trong đầu thật nhanh, rồi bảo dạ rằng: "Mẹ là phận gái, ta là phận trai, thì ngay cội rễ căn nguyên đã đôi đường khác biệt. Nếu cãi lại thì ra tuồng bất hiếu, thời sao bằng im mẹ nó thì hơn, rồi đợi lúc thuận tiện chơi luôn mới không điều ân hận.". Nghĩ vậy, bèn từ tốn nói:

- Con lấy vợ là vì muốn nhìn thấy nụ cười của mẹ, nhưng bây giờ mẹ không cười, thời bỏ qua một bên. Chớ con không muốn thấy mẹ với dâu chưa gì… xăn tay áo!

Mấy ngày sau, nhân lúc mẹ đi qua làng bên hốt thuốc, Đức mới vào thu gom đồ đạc, cùng chôm một ít tiền, rồi lẹ làng ra cửa. Vừa đi vừa nói:

- Tiền này tiếng là của mẹ, nhưng cũng là của ta, bởi… di chúc đã bảo rằng: Y như thế!

Lúc đến địa giới của Duyên Châu, Thành Đức may mắn xin được một công việc dọn dẹp ở văn phòng kế toán, nên sinh kế cũng đỡ lo, lại còn được chủ nhân sốt sắng tìm nơi cư ngụ. Tuy chẳng đặng cao sang, nhưng so với bao kẻ thiếu trước hụt sau cũng nằm mơ không có.

Ngày nọ, Đức đang ngồi uống cà phê buổi sáng, bất chợt thấy bóng người xẹt qua ngõ nhà mình, bèn lật đật bước ra, thời thấy một người con gái tuổi chừng đôi tám, tóc cột đuôi gà, liền sửng sốt nói:

- Tiểu thư và tiểu sinh chưa hề quen biết. Sao lại đi vô?

Người con gái lớn giọng quát:

- Ta vào đây không phải đi tìm ngươi mà tìm… mèo. Vậy, ngươi có thấy con mèo tam thể của ta chạy qua đây không?

Đức! Từ khi trốn mẹ mà đi, cứ mãi giữ trong tâm tư là con gái xứ này vừa ngoan vừa đẹp, nay thực tế sờ sờ ra trước mắt - mới hiểu giữa cái nghĩ và cái thực nhiều khi lại quá xa - bèn nghe lòng bực bội, toan lớn tiếng cãi tràn, nhưng khi chạm đến ánh mắt buồn bã của người ta, bèn hào khí xìu hơn phân nửa. Lầm thầm bảo dạ: "Mèo chỉ là thú vật. Chưa biết có mất hay không, mà thần sắc ủ dột, giọng nói muốn đứt hơi, thì không biết lúc có chồng, sẽ yêu thương đến chừng mô đây nữa?". Nghĩ vậy, liền cẩn trọng nói:

- Tìm mèo là chuyện nhỏ, nhưng giữ gìn sức khỏe mới là chuyện lớn. Tiểu sinh tình thực không nhìn thấy con mèo chạy qua, nhưng lại nhìn thấy sắc diện của cô nương có phần không đặng, nên muốn nhắn nhủ một điều, là: Mèo có lạc cũng hổng sao, nhưng cô nương có bề gì thì lấy ai mà báo hiếu?

Người con gái đang âu lo là vậy, bỗng nghe đến chữ con mèo lạc mất, bèn quên là mình đang ở trong nhà người lạ. Tức tối hét:

- Ăn nói điều xúi quẩy. Thiệt là đáng ghét!

Nay lại nói về Trình tiểu thư. Hôm ấy mất một ngày đi tìm mèo mà không gặp, bèn ủ dột mày ê, ngồi ở góc phòng, đến độ mực nướng nai khô chẳng thèm đếm xỉa tới, bỗng có tiếng hỏi rằng:

- Tiểu thư mất mèo mà đau đớn như thế này. Có hiểu tại sao không?

Trình tiểu thư ngước mắt lên, thời thấy Chu Sương là tì nữ mà nàng hằng yêu mến, bèn chán nản đáp:

- Không!

Lúc ấy, Chu Sương mới ngồi xuống dưới chân. Nhỏ nhẹ nói:

- Tiểu thư buồn không phải vì mất mèo, mà mất đi nơi chốn để tiểu thư… đổ tình thương vào trong đó. Cái này giới đại phu gọi là tâm bệnh. Vậy để chữa tâm bệnh, thì phải bắt đầu từ cái gốc. Chỉ có vậy thôi!

Trình tiểu thư đang âu sầu là vậy, mà chỉ vài lời, lại thấy cả ngày mai, bèn ấp úng nói:

- Ngươi hiểu rõ ta còn hơn… ta. Vậy, muốn chữa tâm bệnh, thời ta phải làm sao?

Chu Sương thấy thái độ của chủ nhân mình như vậy, thì biết bệnh tình chỉ còn hơn phân nửa, bèn hăng hái đáp:

- Hạnh phúc thì ngắn ngủi, nhưng đau khổ rất là dài, và bởi vì dài nên cần có sự xẻ chia, bớt đi phần gánh nặng. Nay tiểu thư thay vì yêu mèo, thì hãy đổi lại là yêu người, thời tâm bệnh sẽ tiêu diêu, ngàn khơi xa tuốt .

Trình tiểu thư ngẫm nghĩ một chút. Chợt cười, chợt nhăn, rồi thở dài áo não, khiến Chu Sương không nén được tò mò. Gấp rút nói:

- Tì nữ theo hầu tiểu thư đã gần mười năm, nhưng chưa bao giờ thấy sắc mặt tiểu thư đổi thay làm vậy. Theo ngu ý của kẻ hèn này : Chắc là trong tâm tưởng đã có phần mơ mộng, ruột dạ xuyến xao, hẳn tâm ý đã dồn vô nơi mới.

Trình tiểu thư bỗng dõi mắt vào cõi xa xăm, rồi nghiêm mặt hỏi:

- Lầm lỗi mà muốn xin lỗi với người ta, thì phải làm sao?

Chu Sương lẹ miệng đáp:

- Thượng sách là gặp mặt. Trung sách là nhờ người. Hạ sách là chờ bên nọ nguôi ngoai, cho thời gian chôn lấp.

Trình tiểu thư im lặng một chút, rồi bất chợt nói:

- Thượng sách thì gấp. Hạ sách thì chậm. Trung sách thì vừa. Có điều ta không tiện nhờ người, thì phải làm sao?

Chu Sương nhanh nhẩu đáp:

- Không nhờ được người thì nhờ giấy mực. Chỉ có vậy thôi!

Trình tiểu thư nghe đến giấy mực, bèn lộ mối ưu tư. Thảng thốt nói:

- Giấy mực. Có ăn chắc thật không?

Chu Sương nồng nhiệt đáp:

- Xa, thời tiện nữ không biết, nhưng gần thì có ngay bên cạnh. Cách đây năm năm, tiện nữ lần đầu nhận được lá thư tình, vì sợ cha mẹ biết, nên phải đợi đến đêm nhờ ánh trăng mà đọc. Suốt khoảng thời gian đó, trong đầu óc của tiện nữ, bao nhiêu là nghi vấn, bao nhiêu là lo sợ, bao nhiêu là mừng vui, bao nhiêu là hồi hộp. Tóm tắt lại là cái cảm giác đó suốt quảng đời thanh xuân của tiện nữ chưa hề được trải qua. Nó réo rắt, nó ngọt ngào. Nó làm cho tiểu nữ cảm thấy tăng thêm phần sức mạnh. Không trang điểm mà vẫn đẹp. Không son phấn mà vẫn ngon. Không cắt sửa lôi thôi mà vẫn tin mình hơn… hoa hậu…

Trình tiểu thư nghe tới đây, bỗng ửng hồng lên đôi má, mới ấp a ấp úng mà nói rằng:

- Mình là con gái, lại chưa quen mà gởi thư. Có tệ lắm chăng?

Chu Sương mĩm cười đáp:

- Nam nữ bình quyền. Con trai gởi được thì con gái cũng gởi được. Sao lại phải lo?

Trình tiểu thư nghe vậy, liền đưa móng tay lên cắn cắn mấy cái, rồi e thẹn hỏi:

- Lỡ người ta không nhận, thời phải làm sao?

Chu Sương đầu thì lắc, tay xua lịa xua lia. Lẹ miệng đáp:

- Tiểu thư với người ta chưa quen ắt phải lạ, mà đàn ông thấy gái lạ như quạ thấy gà con, thì sao lại có chuyện… không nhận nằm vô trong đó?

Trình tiểu thư nghe vậy, lặng người đi một chút rồi lẩm bẩm:

- Trên đời. Cái khó nhất là tự biết mình. Ta chỉ vì muốn quên mà gởi thư cho người khác, thì trước là xem nhẹ mình, sau tội cho người ta, bởi đang không trở thành… phao cấp cứu. Chi bằng ráng chịu thì hơn!

0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Wednesday, April 1st 2009

2:15 PM

Chuyện kể hành trình Biển Đông: Đời Tỵ Nạn

- Tuệ Chương Hoàng Long Hải-

LTS: Trong suốt 8 thập niên kể từ khi thành lập vào năm 1930, CSVN đã gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác trên quê hương Việt Nam. Có thể nói, trên từng tấc đất, ngọn cỏ, lá cây, hòn đá... của quê hương Việt Nam, dưới mỗi mái gia đình, trong mỗi thân phận người Việt, đều có những dấu ấn ghi lại những tội ác kinh tâm động phách do người cộng sản gây ra. Đặc biệt, sau khi ngang nhiên vi phạm Hiệp Định Geneva, xâm lăng và chiếm đóng Miền Nam kể từ 30 tháng 4 năm 1975, CSVN đã thực hiện hàng loạt chiến dịch đàn áp, khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ... dã man trên khắp lãnh thổ Miền Nam, để một mặt ăn cướp trắng trợn tài sản của người dân, mặt khác nghiền nát mọi sức đề kháng, chống đối của những người yêu nước, khiến hàng triệu người dân Miền Nam phải vượt biển, vượt biên tìm tự do. Hậu quả, trong thời gian hơn hai thập niên kể từ sau 1975, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, ông bà già,... đã bị thảm tử trên biển cả, trong rừng sâu, ngoài hoang đảo.... sau khi phải trải qua những bi kịch kinh tâm động phách, muôn vạn phần đau đớn. Không những thế, ngay cả với những người sống sót, những bi kịch kinh tâm động phách đó vẫn còn mãi mãi tiếp tục ám ảnh, giầy vò, tra tấn họ, cho dù họ có sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, có đi đến bất cứ chân trời góc biển nào... Để có thể tái tạo một trong muôn vàn tội ác của cộng sản Việt Nam đối với người vượt biên tìm tự do, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả những đoạn hồi ký trích trong "Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông". Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được, tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển. Qua đó, chúng ta sẽ thức ngộ được, lần đầu tiên trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN, và có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ đối với chính người dân của chế độ, như chế độ CSVN, quả thực đã vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành trong mỗi gia đình, mỗi cuộc đời, để rồi tiếp tục tràn lan trên khắp bề mặt địa cầu...

*

Chiếc ghe vượt biên tôi đi cặp vào đầu cầu jetty của đảo Pulau Bidong vào xế chiều ngày 1 tháng 6 năm 1989, sau hơn 50 giờ rời cửa Sò Lưới, gần mũi ông Trang, Cà Mau.

Cũng khó quên được mối cảm xúc khi đặt chân lên chiếc phà ở đầu cầu. Mặt phà bằng sắt, "nóng như lửa", ấy là cách nói thông thường. Bị mất đôi giép trên đường ra cửa sông, tôi kéo hai bó củi - loại củi phát cho người tị nạn để nấu nướng - đăït chân lên đó cho đỡ nóng. Bỗng tôi cúi xuống, chống hai tay lên hai bó củi khác, và… nước mắt trào ra.

Tại sao tôi khóc?! Tôi khóc vì 14 năm sống dưới chế độ Cộng Sản với 7 năm 10 ngày trong trại cải tạo. Kinh Quá! Trong chế độ đó, tôi gánh đầy đủ mấy tiếng Đày Đọa và Đói Khát, về cả hai mặt: Vật chất lẫn Tinh thần. Vì vậy, bây giờ, khi đặt chân lên đầu cầu, tôi cảm nhận một cách đầy đủ và sung sướng hai tiếng "Giải thoát". Đã lên được đầu cầu là chính quyền Mã Lai không còn đuổi ra khơi được nữa, là được vào trại tị nạn, là được định cư ở một đất nước tự do, v.v… và v.v…

Nhưng nghĩ lại, tôi thầm nói với tôi: Không được khóc! Không được khóc! Tôi không là người chiến sĩ hiên ngang của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chỉ là người cần cù và chăm chỉ với công việc của mình, khi còn là dân sự - dạy học - và khi ở trong quân đội, chính quyền. Điều an ủi với tôi là khi rời trường tôi dạy để nhập ngũ, bạn đồng nghiệp và học trò thương mến, "tiếc" một ông thầy bỏ phấn bảng, và khi tôi rời binh chủng Thiết Giáp để được biệt phái, thì xếp trực tiếp của tôi, đại tá Nguyễn Mạnh Lâm, tiển tôi bằng một câu khiến tôi… nở lỗ mũi và muốn ở lại: "Anh là người không ai bỏ anh."

Vậy mà suốt 14 năm sống dưới chế độ Việt Cộng, họ không dùng tôi. Họ đúng đấy. Họ không dùng vì không phải họ biết tôi có khả năng chống họ bằng "xiết cò súng", hay bằng "Mồm mép đỡ chân tay" - câu tôi nói đùa khi tôi phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị" mà chính là vì bản chất con người tôi. Họ không thể nào chấp nhận một con người có bản chất như tôi: "Tiểu tư sản thành thị", không dính líu bất cứ "một đời vô sản" nào trong "ba đời khai báo". Như thế, làm sao tôi có thể giác ngộ "hận thù giai cấp" để đi theo con đường Mác - Lê được?!

Khi những "thứ tiểu tư sản" như tôi, nếu không lột xác để "giác ngộ cách mạng" thì sẽ chống ngầm, và chống triền miên. Chống ngầm là một phương cách chống đối tiềm ẩn, rất nguy hiểm. Nó không biểu hiện trên bề mặt để có thể đàn áp, triệt tiêu, kết tội. Tuy nhiên, Cộng Sản vẫn có một cái án tù cho những người đó. Cái án tù gọi bằng nhiều cách khác nhau: "Nguy hiểm cho chế độ", "Không thích hợp cho chế độ", "Phần tử nguy hiểm", "Phần tử phản động ngấm ngầm". Và ở tù không có án, không có ngày về. Và nếu có tha về, lại cũng tiếp tục chống đối, chống Cộng Sản dai dẳng, chống triền miên.

Để độc giả có thể tin tôi, tôi xin đưa ra một ví dụ: Ông Tôn Thất Tần trong "Đêm Giữa Ban Ngày" của Vũ Thư Hiên chẳng hạn. Ông ta là nhân vật có thật ở ngoài đời đấy, không phải do ông Vũ Thư Hiên tưởng tượng ra. Ông ta là người "ở tù muôn năm", tù cho đến chết. Có thể độc giả không biết ông đó là ai? Con nhà Tôn Thất? Dòng dõi vua chúa? Dòng dõi con quan? Có thể đấy. Quan trọng không kém, chính ông ta là em (hay anh) vợ ông Hà Thúc Ký, lãnh tụ đảng Đại Việt, và là người chống Cộng bền bỉ, kiên trì… Làm sao ông ta có ngày về?! Bề ngoài, ông ta có cái tù 20 năm, nhưng cái án tù ấy được nhân lên nhiều lần, cứ hết 20 năm nầy lại tới 20 năm khác, cho đến khi ông ta không còn sống để nhận án 20 năm nữa! Chúng ta, những người "tù cải tạo" là Tôn Thất Tần thứ hai, thứ ba, thứ một triệu… nếu không có Mỹ can thiệp, yêu cầu thả, và nếu không có Tàu đem quân đánh dọc 6 tỉnh biên giới….

Thế rồi tôi sắp vào hàng theo lệnh của Cao ủy Long, một người Tàu-Mã. Tôi đứng cuối, trước mặt tôi là vợ và đứa con gái út. 26 người. Tàu tôi có tất cả 26 người, kể cả tài công và hai anh em con người chủ tàu.

Cao ủy Long vừa đi vừa đếm từng người. Tới tôi là chót. Tôi nhìn ông. Ông nhìn tôi. Tôi nhớ hình ảnh ông kỹ lắm, lớn con, đẹp người, còn trẻ. Điều tôi muốn nói ở đây là lời cám ơn vì ông là người đầu tiên của Cao Ủy Tịn Nạn, hay có thể gọi là người của Thế Giới Tự Do cũng được, đón tôi ở nơi nầy, nơi, nói một cách văn hoa là "Bến bờ Tự do." Vì vậy, hai năm sau, trước khi rời Bidong, tôi mời ông ra ngay chỗ bến tầu nầy chụp chung với gia đình tôi một tấm hình. Trước khi chụp, tôi nói với Cao Ủy Long tôi muốn chụp hình với ông vì ông là người đầu tiên đón tôi khi tôi vừa thoát khỏi chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Sau khi đếm người xong, chưa lấy tên họ gì cả, 26 người chúng tôi được đưa vào một gian nhà tôn, bên cạnh đầu cầu jetty. Lúc ấy, "cô Cao ủy Delle" - người ta thường gọi như thế, một người lai: Cha Thái Lan, mẹ Việt Nam, sinh đẻ ở Chợ Lớn, lớn lên ở Bangkok, nói tiếng Việt không sõi lắm, thường tự xưng với bất cứ ai bằng "Mình", chẳng hạn như có lần nói với tôi sau nầy: "Mình gởi lời thăm vợ mình." khiến tôi phải cười. Cao ủy Delle lập danh sách từng người, hỏi rất kỹ mấy đứa con gái bị tụi ngư dân Mã Lai xàm xở như thế nào. Bọn chúng chỉ xàm xở, không làm gì quá hơn.

Xong, tất cả được cấp phát quần áo, mỗi người hai bộ, chăn màn, chiếu và sang phòng bên, có chia đôi nam nữ để tắm rửa. Mấy ngày "ém quân" nơi ấp Đậu Sấu, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, xứ nước mặn, chẳng được tắm táp gì. Hai ngày ở trên ghe, nước rửa mặt còn không có, nói chi tới tắm rửa. Vì vậy, bữa nay tắm thoải mái, không hạn chế nước ngọt, sướng thật!

Có điều buồn cười! Khi vượt biên, vợ tôi có mang theo một tượng Phật tạc bằng đá cẩm thạch núi Non Nước. Tượng to bằng hai nắm tay. Trước khi vào buồng tắm, tôi nói vợ tôi để cái tượng trên lan can, hành lang đi thẳng lên bờ. Đem tượng Phật vào buồng tắm là không nên. Nhưng khi tắm xong trở ra, ai lấy mất tượng rồi! Vợ chồng tôi băn khoăn vì mất tượng Phật mà không biết hỏi ai. Vợ tôi khóc!

Nhà bếp đem cơm xuống cho chúng tôi, cũng có đủ chén bát, muỗng đũa cho tất cả mọi người. Ăn xong, để một chỗ, nhà bếp sẽ xuống lấy.

Gần tối, một linh mục người Úc, cha Quentin xuống thăm. Ông thăm hỏi từng người, rất ân cần. Cuối cùng, vợ tôi than phiền bị mất tượng Phật. Ông bảo yên tâm, để ông đi tìm. Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, ông trở lại, tượng Phật ông bồng trong tay, đưa cho chúng tôi.

Hỏi ông tìm thấy ở đâu? Cha Quentin nói: "Ở chùa!" Té ra có một đám thanh niên làm việc cho "supply". Họ xuống lấy củi ở cầu tàu. Thấy tượng Phật, họ bèn lấy đem lên chùa. Họ theo đạo Phật, thấy tượng Phật để trên hành lang thì họ đem về chùa! Có gì lạ đâu! Nhưng tôi thì thấy buồn cười. Ở nước tôi, dưới cái gọi là "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", Việt Cộng thấy tượng Phật thì nắm quẳng ra hàng rào, cho là thứ thuốc phiện, có hại. Nếu là người có đạo Thiên Chúa, VC cũng không tôn trọng, không tin tưởng. Ở đây, đất nước tự do khác lạ: Một ông linh mục, đi lên chùa tìm tượng Phật đem về cho người tị nạn. Người ta không có sự phân biệt tôn giáo như quê nhà.

Khi trời gần tối, tôi đứng ở cửa sổ nhìn lên đảo. Trên đảo lại có một ngọn đồi. Người ta gọi là "Đồi tôn giáo". Chùa, nhà thờ, chùa Cao Đài, chùa Hòa Hảo, quây quần với nhau trên ấy, hòa hợp vui vẩy, không kỳ thị nhau.

Khi ấy lễ nhà thờ vừa xong, con chiên của Chúa từ trong nhà thờ túa ra, phần đông là các bà, các cô, mặc áo trắng. Họ đi theo con đường xuống chân đồi, vòng qua phía tượng "Ông Già Bidong" rồi quẹo qua phía đầu cầu jetty, đi ngược lên đảo. Họ đông lắm, đi liền nhau, như một con rắn trắng, uốn mình theo con đường cong. Tại sao người ta đi nhà thờ đông thế? Tại vì ở quê họ không được đi nhà thờ, hoặc có đi mà còn sợ Công An. Có thể ở đây vì không khí tự do, người ta cần cầu xin cho mình một tương lai. Dù với lý do gì, thấy họ đi đông, lòng tôi vui lên, trước một cảnh tượng đẹp, không kém phần trang nghiêm của tôn giáo và sự tự do.

Đêm đó, ngày 1 tháng 6 năm 1989, tôi ngủ ngon trong chăn ấm, dù ngôi nhà đó nằm trên bờ biển, gió thổi suốt đêm!

Hôm sau, ăn uống xong, thay vì được đưa lên đảo, chúng tôi được đưa xuống tàu sắt Su-Ma, tàu của trại tỵ nạn, để vào dất liền, thuộc tiểu quốc Terrenganu.

Từ bến tàu chúng tôi được đưa lên xe bus để về trại Marang. Mã Lai nguyên là thuộc địa cũ của Anh nên xe chạy bên trái thay vì bên phải. Vì vậy, mỗi khi thấy có chiếc xe chạy ngược, tôi hơi ngờ ngợ. Sau nầy, quen thân với ông Di, người cùng đi chuyến tàu vượt biên, tôi hỏi đùa ông về cái cảm giác xe chạy ngược chiều, ông bảo: "Tôi cứ đạp thắng phụ cho tài xế hoài, nhưng xe vẫn chạy. Điều nầy, đối với người quen đi bên phải, ngỡ ngàng. Trong cuốn đi Tây của Nhất Linh, ông kể rằng khi tới Aden, thuộc địa của Anh, ông viết đùa là phải tính nhẩm bên trái, bên phải để tránh xe.

Trại Marang là một ngôi nhà lớn, đã cũ, có lẽ do Cao Ủy Tỵ Nạn thuê lại của chủ, làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn được tấp vào bờ ở bán đảo Mã Lai, trước khi đưa ra đảo Bidong hoặc cho đồng bào tị nạn ở đảo vào đất liền có công việc gì đó, thường là khám bệnh do bệnh viện Sickbay của đảo chuyển vào.

Ngôi nhà có mấy cái sàn lớn để làm chỗ ngủ, có chỗ nấu bếp, và một phòng y tế. Sau nhà là một vườn dừa lớn, khoảng hơn 50 cây. Dừa đã có trái, cấm hái. Tuy nhiên, nhiều thanh niên vẫn chờ đêm khuya, hái trộm ăn chơi. Chính nhân viên Mã Lai cũng bao che cho họ, hái trộm dừa.

Trại có vòng rào kẽm B-40 rào quanh. Cổng trại luôn đóng kín, cấm người tỵ nạn ra khỏi trại. Phía bên hông ngôi nhà là bờ biển, phẳng, nhưng cát hơi vàng. Vòng rào quanh nhà cũng ngăn không cho người đi ra biển.

Trước khi tôi tới đảo khoảng một vài tháng là thời gian người vượt biển đến đông, ngôi nhà nầy không đủ chỗ để ở. Chính quyền Mã Lai dựng thêm nhà bạt hay phát các tấm nylong để người tỵ nạn che chỗ ở quanh vòng rào. Bây giờ thì người đã ít đi. Hôm tôi tới, chỉ có 26 người của ghe tôi đi.

Chiều hôm chúng tôi tới, có một toán thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai đến lấy danh sách. Ghi tên từng người xong, họ hỏi: "Muốn định cư ở đâu?" Ai cũng mừng, cứ tưởng như vài hôm nữa sẽ được thỏa ý nguyện. Kẻ nói đi Úc, người đòi đi Mỹ. Tôi thì phân vân. Con gái thứ hai của tôi ở Mỹ nhưng tôi chẳng muốn đi Mỹ. Tôi có định kiến!

Hai cuôc chiến tranh Đông Dương kéo dài từ 1945 đến 1975 là 30 năm. Ai gây ra cuộc chiến tranh nầy, nếu không phải là 4 anh đầu sỏ: Mỹ, Pháp, Nga, Tàu hay sao? Vì vậy, chắc chắn không ai muốn định cư ở Nga và Tầu. Đi tìm tự do mà định cư ở các nước Cộng Sản nầy thì có khác chi cô Kiều "Hết nạn nọ đến nạn kia". Còn như Pháp, Mỹ thì họ có tội với dân tộc Việt Nam đấy. Pháp tái xâm lăng Việt Nam với súng đạn Mỹ, còn Mỹ thì chính là "đồng minh chạy làng" của chúng ta. Chơi vậy thì chơi với ai.

Hôm sau, khoảng 80 người của một chiếc tàu khác, tấp vào bán đảo, được chuyển đến đây ở chung. Chiếc tầu nầy cũng bị hải tặc Thái Lan tấn công, nhưng thoát được. Ai nấy hú hồn.

Ở trại Marang có ba hôm, chẳng làm gì ngoài các thủ tục vô bổ như thế, hôm sau, 26 người chúng tôi lại được xuống tầu đưa về lại đảo Bidong. Hôm ấy đúng là ngày 4 tháng 6 năm 1989, vụ thảm sát ở Thiên An Môn đang xảy ra.

Hải Tặc Thái Lan

Tại sao tôi gọi Hải Tặc Thái Lan? Dễ hiểu thôi bởi vì hầu như tất cả các vụ cướp biển, chận bắt tầu vượt biên, giết người, bắt đàn bà con gái, lục soát cướp đoạt tài sản người vượt biên, đánh đắm tầu, không cho ai sống còn để khai báo, v.v… đều do ngư phủ Thái Lan gây ra cả. Ngư phủ Mãi Lai chỉ xàm xở với đàn bà con gái, cướp dầu, mì gói, lương thực, chứ không giết người, bắt người như ngư phủ Thái Lan.

Bọn ngư phủ Thái tung hoành trong vịnh Thái Lan, không ai làm gì chúng được, vì chúng có dù che!? Để ngăn chận tệ nạn nầy, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc mỗi năm chi ra một triệu đô la cho chính phủ Thái Lan để chính phủ nầy có thêm phương tiện hoạt động, nhưng từ khi có thêm tiền thì tệ nạn hải tặc không bớt đi mà lại gia tăng! Ấy là tại sao? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

Cô cao ủy Delle, như tôi giới thiệu trong phần trên, là người đặc trách về hải tặc của cao ủy tỵ nạn, là người rất có lương tâm, rất tận tâm, cũng phải sợ những cái dù của đám ngư phủ hải tặc Thái Lan.

Việc truy tìm hải tặc Thái Lan không thuộc sở trường của cao ủy Delle, nên cô không tìm được nhiều những tên hải tặc do các nạn nhân, thoát chết, tới được đảo, khai báo với cô. Thường lời khai các nạn nhân thì có: nhân dạng (mặt mũi, mầu da, tóc tai, tuổi tác, v.v…). Nhận dạng người và nhận dạng tầu.

Người thì nhỏ nhưng dễ nhận dạng vì khi chúng nhẩy qua tầu vượt biên, chúng không cần phải che giấu mặt, nghênh ngang cầm dao lớn hay mã tấu, đi tới đi lui trên ghe, lục soát, nạt nộ người nầy, đâm chém người kia, bắt con gái đàn bà mà không sợ ai cả. Còn ghe của chúng thì to lắm, gấp ba gấp bốn ghe vượt biên, nhưng người ta không rõ tầu gì. Bọn hải tặc lấy các tấm bạt nylon che mất số tầu. Người ta chỉ nhìn cách chúng nó trang trí ghe như thế nào, sơn mầu xanh mầu đỏ, vẽ hình những con vật gì đó để khai với cao ủy Delle.

Khi tôi tới đảo, anh Võ Thế Long, cựu đại úy Cảnh Sát, sau khi du học ở Mỹ về, hoạt động trong ngành Interpol của bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa, tới đảo trước tôi ít lâu, đã giúp việc cho cao ủy Delle một thời gian. Ông Long dùng những phương pháp chuyên môn trong ngành như phân tích nhân dạng, phân tích tầu, đối chiếu, v.v… và tìm ra được một số tầu, một số người để các cô gái nạn nhân nhận dạng người và tầu. Nhờ vậy, cô cao ủy Delle dẫn các nạn nhân qua Bangkok để nhận mặt các tên hải tặc, một số bị tòa án Thái Lan xử tù.

Từ đó, bọn hải tặc Thái Lan không vào bờ. Khi tầu của chúng đánh cá xong, trở vào bờ, gần tới nơi, chúng nhảy qua những tầu ra khơi để đi tiếp, Cảnh sát Thái Lan có biết tên tuổi chúng, cũng không làm gì được.

Vả lại, chủ tầu đánh cá Thái Lan là “bọn” tướng tá quân đội và cảnh sát Thái Lan. Tôi dùng chữ “bọn” không phải là sai đâu! Vì quyền lợi đánh cá, “bọn” tướng tá nầy bao che cho “bọn” hải tạc, ngăn chận và hăm dọa những người hoạt động trong công việc chống hải tặc, nên những người nầy sợ chúng, chẳng dám làm gì hơn.

Chính cao ủy Dellle, người Thái Lan, biết chuyện đó, cũng sợ chúng. Mỗi lần đi Bangkok, khi cao ủy Delle tới biên giới Mã Lai - Thái Lan, cô phải cải dạng, ăn mặc như một người đàn bà Thái Lan bình thường, để khỏi bị chúng nhận ra và ám hại.

Kể từ khi Cảnh Sát Thái Lan bắt giữ và đưa một số ngư phủ hải tặc Thái Lan ra tòa, hành động của chúng càng tàn ác và hung tợn nhiều lắm. Thay vì cướp của, bắt đàn bà con gái, giết những ai chống lại chúng rồi thả cho ghe vượt biên đi. Bây giờ cướp ghe nào, sau khi lấy hết những gì chúng muốn, bắt những ai chúng muốn, giết những ai chúng muốn, còn lại, chúng đánh chìm ghe vượt biên, cho chết hết, ở ngoài biển khơi, để không còn ai sống sót mà khai báo với Cao Ủy Tị Nạn.

Tàu chúng thì to, mới và rất tốt, ghe vượt biên thì nhỏ, cũ, mong manh. Chúng chỉ cần cho tàu của chúng đâm thẳng vào ghe vượt biên, ghe vở toang ra, chìm xuống biển, chẳng ai sống sót.

Ghe của tôi mang số MC 483. Ghe trước tôi, không nhớ rõ, hình như MC 482 hay MC 481 khoảng 130 người vượt biên trên ghe, bị chết đuối trên biển hết trọi, sau khi bị ghe hải tặc Thái Lan đánh cướp, bắt đi mấy người con gái, đàn bà. Những người bị bắt nầy bị chúng đem về nhốt ở một hoang đảo nào đó, rồi trước sau cũng chết vì đói khát, vì bị chúng hảm hiếp liên miên, hoặc bị chúng giết, thả xuống biển, sau khi chúng đã chán chê.

Khi tôi đang ở đảo, báo Đường Sống, báo của di dân hải ngoại viết về thuyền nhân, có kể chuyện một cô gái, hình như con của một đại úy phi công, bị hải tặc bắt, đem về giam ở một hòn đảo hoang, sau có một tên đem cô về đất liền Thái Lan để làm vợ. Cô gái ấy trốn được, lên tận Bangkok, tố cáo với Cao Ủy Tỵ Nạn. Mấy tên hải tặc bị bắt, bị tòa xử tù. Cô gái thoát nạn được định cư ở Mỹ, và tuyên bố cô ta sẽ xây dựng lại đời cô, sẽ thành một bác sĩ. Tôi ước mong cô ta sẽ toại nguyện. Con người can đảm như thế, khí phách như thế, sẽ đạt được ý nguyện của mình thôi!

Khi tôi còn làm việc ở phòng SB, một hôm, thấy có năm hoặc sáu người vượt biên mới tới, từ Văn Phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai đưa sang. Nhìn họ, tôi nói với kỹ sư Nguyễn Dương Hảo, ngồi làm việc bên cạnh tôi:

“Ông xem, mấy người nầy trông ghê quá!”

Da họ đen xạm, nhiều chỗ nứt nẻ, rướm máu. Họ đi không vững, có người phải có người đỡ.

Ông Hảo ra đứng xem, hỏi chuyện với họ. Sau đó tôi được biết:

Tầu họ khoảng 120 người, bị hải tặc Thái Lan tấn công. Sau khi bắt đi mấy cô gái, chúng cho tầu của chúng đâm vào ghe vượt biên. Ghe vỡ, phần đông chết đuối cả. Mấy người nầy ôm những tấm ván vỡ, trôi lềnh bềnh trên biển hai đêm hai ngày, may nhờ tầu đánh cá Mã Lai vớt được, đưa vào Terrenganu. Hai ngày hai đêm trên biển, vừa đói vừa khát, vừa đuối sức nhưng cũng cố bám vào tấm ván nên sống sót. Trên thì nắng nhiệt đới, dưới là nước biển, da họ bị sưng lên, rồi vở ra, nứt nẻ nên trông khiếp như vậy. Tôi nhớ ghe của họ được đặt tên là MC 513.

Hôm sau, lại thêm ba người nữa được đưa tới, cũng tình trạng y như những người đến ngày hôm qua, đuối sức, da nứt nẻ, đi không vững. Hỏi ra, họ đi cùng ghe với những người ngày hôm qua, nhưng được vớt trễ hơn một ngày, có người vướng vào lưới đánh cá của ghe ngư phủ Mã Lai, được lưới kéo lên. Những người nầy được đặt tên là MC 514, tuy cùng ghe với những người trước.

Ngư dân hải tặc Thái Lan không phải là những tên gan dạ. Chẳng qua vì người vượt biên sợ hãi quá, nhát gan quá, lại không ai chỉ huy, thống nhứt để chống lại nên chúng mới lộng hành như thế. Có một ghe vượt biên, phần đông là thanh niên Saigon, gan lắm. Khi ghe hải tặc Thái Lan đến gần họ, họ cùng đứng lên, gặp gì, thấy gì, họ cầm lên, cương quyết chống cự. Có người thì quăng nồi, quang thùng sang tầu hải tặc, có người lăm cầm cây sào chờ bọn hải tặc nhảy qua tầu họ là họ sẽ tấn công. Thấy “khí thế” như vậy, bọn hải tặc Thái Lan quay mũi tầu chạy mất.

Trường hợp đại úy Nguyễn Văn Trọng cũng buồn cười. Trước 1975, đại úy Trọng làm quản lý câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc của bộ Tư Lệnh Không quân VNCH trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Do đó, ông biết mặt nhiều nhân vật nổi tiếng, nhứt là trong giới không quân. Sau 1975, tù cải tạo về, Việt Cộng không cho ông ở lại Saigon, nhà ông ở khu vực cuối đường Nguyễn Tri Phương, gần chợ cá Trần Quốc Toản, buộc ông đi kinh tế mới. Khó khăn quá, ông bèn vượt biên. Biết ông là sĩ quan chế độ cũ, người chủ vượt biên giao cho ông nhiệm vụ xem bản đồ để định hướng cho ghe đến đúng Bidong, và giao thêm một cây súng Carbin M-1 (bắn từng phát một) để phòng khi bọn hải tặc tới thì phản ứng.

Ông Nguyễn Văn Trọng, người ốm nhom, đứng nhiều khi muốn té, cười cười kể cho tôi nghe:

“Tôi đứng ở phía sau cabin của tài công, chỉ đường cho ghe chạy. Một hôm, mới tảng sáng, tôi thấy ghe Thái Lan đuổi theo. Trời sáng, tụi nó thấy rõ ghe mình mới đuổi theo còn trong đêm, tôi biểu tài công tắt đèn mà chạy để bọn Thái Lan không thấy ghe mình. (Ghe tôi đi, tài công là “Phong dưa hấu” cũng làm y như thế, tắt đèn chạy trong đêm để tránh hải tặc nhận ra ghe vượt biên). Tui bình tĩnh đứng sau cabin chờ ghe hải tặc tới. Tay tôi thủ cây súng Carbin, đạn đã lên nòng, khóa an toàn. Mấy ngày nay, ngày nào, tôi cũng chùi súng, rất kỹ. Tui chùi nòng cho thật sáng, xem lại cơ bẩm, kim chích hỏa. Tui chờ ghe Thái Lan tới cách khoảng năm chục thước, bèn đưa súng lên, mở khóa an toàn, nhắm cho đầu ruồi đúng vào chỗ tài công tụi nó. Xong, tui nổ một phát. Súng cũ quá, nổ xong, cơ bẩm văng ra khỏi súng, rơi xuống sàn đánh bụp một cái, rồi dội lên, văng tuốt xuống biển đánh ùm. Tôi lo lắm, than thầm: “Chết cha rồi!” Nhưng khi ngó lại, tui thấy ghe hải tặc bỏ chạy mất. Mừng rúm!”

Người Thái Lan theo đạo Phật, nhưng theo tôi thấy, họ không giống người Việt theo đạo Phật chút nào. Đạo Phật Việt Nam ở trong truyền thống dân tộc, ai chăm thì đi chùa thường, học kinh học kệ, nói ra thì đầy những kinh sách, Phật dạy thế nầy, thế kia. Ngoài ra, giới bình dân, người ta ít đi chùa hơn, mỗi năm vài ba lần trong những ngày vía, rồi thôi. Đạo Phật của họ là trong cách sống thường nhựt, ăn hiền ở lành, thương người nghèo khó, hoạn nạn, ăn mặn nhưng tránh sát sanh, v.v… nên người ta ít cuồng tín. Người Thái Lan đi chùa rất thường, rất cung kính, cầu nguyện, xin xỏ, mong cầu, phù phép, và rất tin, phần đông cuồng tín. Họ tin Phật như vậy mà tại sao ác thế. Hay cứ làm ác rồi vào chùa cầu xin là xong. Họ cũng chẳng hiền hòa như người bình dân Việt Nam.

Với tôi thì “Tận tín thư bất như vô thư” cho nên chẳng bao giờ tôi có thể trở thành một tín đồ ngoan đạo, đạo nào cũng vậy. Nhưng tôi tin ở Bác ái Công giáo và Từ bi Hỷ xả Phật giáo. Những điều ấy thật là vĩ đại, là cần nhứt cho nhân loại mà thôi!

Trên đồi tôn giáo, tại sân trước nhà thờ, Cao Ủy Tỵ Nạn và chính quyền Mã lai đồng ý cho Văn Phòng trại và đại diện các tôn giáo xây một tượng đài kỷ niệm những người đã bỏ mình trên biển.

Kiến trúc khá hiện đại: Trên một bệ đá hình tròn là hình dạng một chiếc ghe vượt biên tơi tả với ba cánh buồm, cao thấp không bằng nhau, vươn cao lên. Tượng được xây theo lối vẽ cách điệu, nhìn dáng cách thì biết chứ không rõ đường nét như tranh thường.

Bên cạnh đài tưởng niệm là một bức tường đá. Những tầu đến từ mấy năm trước, người ta muốn để lại một kỷ niệm nên khắc tên tàu mình lên một tấm bảng gỗ hay ximăng, hay bằng đồng rồi đặt lên đó, cái cao cái thấp bên cạnh nhau. Kể hàng trăm tấm bảng như thế! Tôi cố tìm tấm bảng kỹ niệm của ghe con gái thứ ba (kể theo trong Nam) của tôi đến đây 5 năm trước. Tôi vui mừng khi thấy nó: MB 475.

Buổi chiều, leo lên ngồi trên bệ đá nhìn ra khơi: Phía bên nầy biển khơi mù mịt, phía bên kia là rặng núi cao, là xương sống của bán đảo Mã Lai, làm tôi nhớ tới rặng Trường Sơn ở quê nhà. Khi mặt trời chiều đỏ ối như một khối lửa nghiêng xuống, đụng vào đỉnh núi tóe ra muôn vàn tia mặt trời đỏ như hình nan quạt, rồi chìm khuất sau những đỉnh núi hình răng cưa, là tôi nhớ nhà da diết. Người xưa ra đi khi còn trẻ, già trở về cố hương, ấy là “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi”. Tôi nay đã “lão đại hồi” mới “ly gia”, rồi mai đây học nói tiếng Anh, tiếng Mỹ, làm sao mà còn “hương âm vô cải” và chắc chắn không hát được câu “Tung cánh chim tìm về tổ ấm.” Mà về làm gì, nơi đầy đọa ấy, nơi quê hương là “Chùm khế chua.” Tôi chợt nhớ ngày xưa, khi báo chí phỏng vấn tướng Nguyễn Văn Hinh, hỏi ông nghĩ gì về Việt Nam và Pháp, ông ta trả lời: “Việt Nam là nơi xua đuổi tôi, Pháp là nơi cho tôi hạnh phúc.” Vậy muốn sống, người ta phải tìm nơi hạnh phúc là lẽ đương nhiên, sao tôi vội trách ông là người mất gốc. Nay nghĩ lại câu nói của ông, tôi thấy hối hận với lòng mình. Ở đời đừng vội chê ai!

Ở Bidong, có thêm một đài kỷ niệm nữa là tượng “Ông Già Bidong”. Sự tích ông già Bidong là một huyền thoại, được thêm bớt tùy theo người kể. Tuy nhiên, Ông Già Bidong là người tỵ nạn tiên phong, tới Bidong trước nhất, so với đám hậu duệ là những người như chúng tôi. Ông là tài công chiếc tầu sắt đến đây từ lâu lắm, trước khi có các đợt vượt biên, người Việt bỏ nước ra đi. Ông ta đến đây với mấy chục thuyền nhân trên tàu của ông. Lúc đó Bidong hoàn toàn là đảo hoang, không có người ở. Thỉnh thoảng ngư dân Mã Lai dừng lại đây ít hôm, tránh gió hoặc chờ qua cơn bão lại tiếp tục ra khơi bỏ lưới. Chính quyền Mã Lai hoàn toàn vắng mặt nơi đây, và ngay cả Liên Hợp Quốc cũng chưa có chương trình cứu trợ những người Việt Nam chạy trốn Cộng Sản, để làm thuyền nhân, và ngay cả hai tiếng “boat people” mà người ta dịch là thuyền nhân cũng chưa có tên trong tự điển.

Thế mà Ông già Bidong đến đó. Thuyền ông nằm trên bãi cát. Thuyền thì hết xăng dầu, người cũng hết lương thực, đói lả. Có người đi hái những trái dừa trên đảo hoang để kiếm nước uống và ăn cơm dừa. Nhưng đâu có phải ai cũng làm được như vậy. Một buổi chiều, Ông Già Bidong ra ngồi dưới gốc dừa ngó mông ra biển. Đứa cháu gái đã chết trên tay ông. Và ông già - có người thêm thắt cho ly kỳ, ngộ nghĩnh - bị một quả dừa khô rơi trúng đầu, và ông cũng trút hơi thở cuối cùng nơi gốc dừa đó, với đứa cháu gái còn trên tay ông.

Câu chuyện Ông Già Bidong có thật đấy, bởi vì, khi thấy chiếc tầu sắt đã rữa mục nằm trên bãi cát khu A, là chiếc tầu do Ông già Bidong lái tới đây, như một lời chứng cho huyền thoại về ông già đáng thương đó. Tuy nhiên, vì hồi đó, những người cùng đi với ông, đâu biết ai còn ai mất, sau khi một số người được chính quyền Mã Lai cứu giúp, rồi Bidong trở thành đảo tỵ nạn, có khi đông nhất lên tới bốn chục ngàn người, thì câu chuyện Ông Già lái tầu tới biển được thêm vào trong kho tàng văn chương chuyện kể Việt Nam.

Có thực hay không - nhưng ít ra cũng có một ông già lái tầu như thế - đã đến đây và chết ở đây, trở thành một câu chuyện linh thiêng, có người khấn vái ông để được đi định cư, và thuyền nhân lần lượt được định cư thật, thì câu chuyện thêm phần huyền bí linh thiêng.

Độc giả nhớ cho rằng, những thuyền nhân tiên khởi ấy, khi họ bỏ nước ra đi, chưa có chương trình tỵ nạn của Liên Hợp Quốc, chưa có chương trình giúp dân tỵ nạn của chính quyền các nước Đông Nam Á thì nỗi lo sợ của các bậc tiên khởi của chúng ta lớn biết bao nhiêu! Chưa có lời hứa hẹn của chính phủ các nước cho định cư, chưa có các trại gúp người tỵ nạn, số phận các bậc tiên phong đó, bồng bềnh như cánh bèo trên sông, biết đi đâu và dừng lại nơi đâu?! Thành ra, nỗi bơ vơ lạc lõng của họ hồi ấy thật là vô bờ bến, không như những kẻ đi sau, biết chính phủ Mỹ, chính phủ Úc và các nước Châu Âu mở vòng tay đón đợi, yên tâm hơn nhiều.

Thế rồi vì nhớ ơn Ông Già linh thiêng ấy, người tỵ nạn họp với nhau lại bàn bạc, có văn phòng trại hưởng ứng, giúp đỡ, tượng Ông Già Bidong được dựng lên: Một ông già râu tóc dài, đứa cháu gái chết nằm trên tay, đặt gần bờ biển, phía chân đồi tôn giáo. Mỗi ngày, nơi tượng Ông Già Bidong khói hương nghi ngút vì người ta tiếp nối nhau cầu nguyện ông phù hộ cho mau định cư, hoặc định cư nơi muốn chọn, hoặc cầu nguyện cho gia đình ly tán mau sum họp, hay cầu nguyện anh nầy chị kia được kết duyên Tấn Tần, v.v…. Càng về sau nầy, khi có chương trình “Thanh lọc người tỵ nạn”, sợ bị “hỏng thanh lọc”, sợ bị “cưỡng bức hồi hương”, tượng Ông Già Bidong càng thêm nghi ngút khói, cho đến một ngày thuyền nhân đi hết, trại Bidong giải tán, trở lại thành đảo hoang. Và Ông Già Bidong vẫn còn ngồi lại đó, đứa cháu gái chết rồi vẫn còn nằm vắt trên tay ông. Mắt ông nhìn ra biển khơi.

Ông Già Bidong kính mến! Có lẽ ông nhớ về cố quận, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông bỏ đi khi tuổi đã già, bơ vơ nơi đất khách, bỏ mình nơi đảo hoang, một thời được gọi là “Đảo Rắn.” Đảo Rắn là tiếng dịch từ hai chữ Bidong trong ngôn ngữ người Mã Lai.

Dù gì thì người tỵ nạn vẫn cám ơn người dân và chính quyền Mã Lai đã đón tiếp thuyền nhân, cho một nơi tạm trú, trong khi chờ định cư ở quốc gia thứ ba.

Dù gì thì cũng phải cám ơn dân chúng Mã Lai, mặc dù, về sau, khi có chương trình cưỡng bức hồi hương, chính quyền Mã Lai, muốn người tỵ nạn về nước cho mau, đã không nương tay khi lôi kéo, xô đẩy, đánh đập những người kém may mắn, buộc phải hồi hương theo chương trình của Liên Hợp quốc. Tấm lòng nhân ái, phát xuất từ lòng nhân đạo của người Mã hay từ đạo Hồi là tôn giáo của số đông người Mã.

 
0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Wednesday, April 1st 2009

2:13 PM

Tạp ghi: Cạn kiệt niềm tin

-Huy Phương-

Tôi may mắn được đến Mỹ trước bạn tôi vài năm, cho nên khi được nhờ đứng ra bảo trợ để bạn tôi và gia đình có thể đến định cư tại vùng đất đông người Việt này tôi rất vui mừng sốt sắng, và sắp xếp chuẩn bị để đón tiếp. Tôi nhận được thư bạn tôi nhiều lần căn dặn về giờ giấc và nhắc nhở tôi đừng... quên đi đón bạn. Vài ngày trước khi bạn tôi và gia đình đến vùng đất hứa, nhà tôi chuẩn bị nhường lại một phòng bằng cách đẩy cậu con trai ra ngủ phòng khách. Gối, khăn trải giường, chăn đắp đều được thay đồ mới... giặt (thú thật, trong thời gian đầu của người mới sang làm gì có đồ mới mua ở cửa hiệu về), nhưng trong phòng tắm, bàn chải răng, xà phòng, khăn tắm đều mới, ngay cả thùng rác cũng được thay bao mới... mua ở chợ về. Đó là chưa nói đến một lô áo quần lạnh... cũ, chuẩn bị cho cơn lạnh của mùa xuân chưa dứt ở California, mà những người từ vùng nhiệt đới mới đến đây, hẳn là chưa quen. Để chứng tỏ là người sang Mỹ trước, lịch thiệp và hào phóng, một chiếc bánh bông lan có hàng chữ “Welcome to America” cũng đã được mang từ tiệm bánh về để sẵn trong tủ lạnh. Tôi đã nhờ chiếc xe van của Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị của ông Nguyễn Hậu và người lái xe thiện nguyện cùng ra phi trường với tôi, nhân danh nước Mỹ đi đón những người đã chịu nhiều gian khổ trong nhà tù Cộng Sản mới đến đây.

Máy bay sẽ đáp xuống phi trường John Wayne vào lúc 2 giờ chiều, lấy hành lý về đến nhà tôi ở thành phố Westminster cũng mất cả tiếng đồng hồ. Nghĩ đến đoạn đường ngồi trên máy bay qua biển Thái Bình Dương, ghé Đài Loan, hay Nhật Bản, đổi phi cơ ở San Francisco hay Los Angeles, rồi còn giờ giấc thay đổi mà gia đình đến Mỹ nào cũng phải trải qua, vợ tôi đã chuẩn bị một nồi phở lớn cho toàn gia đình, với bàn ăn trải khăn, chén đũa xếp hai hàng, chào mừng bạn cố tri.

Máy bay đến rất đúng giờ, tôi dễ dàng nhận ra hai vợ chồng bạn tôi và hai đứa con ở chỗ nhận hành lý của hãng máy bay với những bộ áo quần tươm tất và trên tay mang những túi xách đựng giấy tờ của IOM cùng trên giây belt hành lý, chiếc thùng nhôm được ràng giây chằng chịt, dấu hiệu đặc biệt của những gia đình mới đến định cư Mỹ trong thời gian này. Trong lúc tay bắt mặt mừng, tôi cũng chú ý đến một thanh niên hình như cũng có nhiệm vụ đến đón gia đình này. Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện đến chỗ đậu xe. Người bạn bỗng đứng lại, quay về phía người thanh niên và giới thiệu với tôi đó là người em vợ của anh, cũng ra đón gia đình anh, và cám ơn tôi đã nhọc công cùng ra đón. Tôi khựng lại một vài giây ngỡ ngàng, và sau đó hiểu là bạn tôi sẽ về nhà người em vợ của anh thay vì nhà tôi, và những gì tôi chuẩn bị cho gia đình bạn tôi là những thứ trừ bị để phòng xa. Thì ra bạn tôi không tin là ông em vợ sẽ ra đón ở phi trường, cũng như không tin thằng bạn cũ sẽ là người bảo trợ chu đáo, thôi thì cứ “bắt cá hai tay” cho nó chắc. Sang Mỹ sau tôi có ba năm, coi bạn tôi đã thay đổi khá nhiều, đâm ra nghi ngờ mọi việc, chẳng còn tin tưởng ở ai, chỉ tội cho tôi hôm ấy được đóng vai “cơm nguội để khi đói lòng”, trong trường hợp cậu em vợ không mang xe ra đón tại phi trường, thì tôi sẽ được lên đóng vai chính.

Sau khi cám ơn người lái xe thiện nguyện của Hội Tương Trợ, tôi thẫn thờ ra xe. Cả hai chúng tôi chắc cũng đồng ý nghĩ là thà mất thời giờ vất vả mà giúp ích cho người khác còn hơn lái xe không về nhà. Phần gia đình tôi phải ăn phở trừ cơm mấy ngày, và chiếc bánh ngọt không dùng hết, phần còn lại phải ra thùng rác và tôi được biết thêm một điều: nhiều người đã mất hết lòng tin, dù là với bà con, bạn bè.

Chuyện gì chứ việc mất lòng tin, nghi ngờ tuốt luốt thì ở trong nhà tù Cộng Sản, chúng tôi đã được học hỏi nhiều, đó là thứ triết lý “chưa chắc”! Ngày lễ, thấy trại mổ trâu, chớ vội mừng. Chưa chắc. Thấy đem da lòng trâu vào bếp tù. Chưa chắc. Đem chén đi lấy phần ăn. Chưa chắc. Ăn thức ăn vào miệng. Chưa chắc. Chưa chắc, vì bị ai đó đánh vào mồm thì thức ăn phải văng ra. Do đó, xong việc sớm chưa chắc đã được nghỉ sớm, còn phải lãnh làm thêm việc khác; “học tập tốt”, “lao động tốt” chưa chắc đã được về sớm. Cai tù nói, đừng vội tin, chưa chắc, vì “nói vậy mà không phải vậy”! Tù di chuyển đến một nơi “tiện nghi, thuận lợi cho việc học tập cải tạo” thì y như là được đưa tới một nơi khốn cùng hơn. Ba năm, sáu năm hay chín năm, đến ngày được ra tù vẫn còn chưa tin, cầm tờ giấy phóng thích cũng chưa chắc, chờ cho đến ngày ra tù, thoát khỏi cổng vừa đi vừa chạy, sợ bọn cai tù chạy theo đòi lại.

Ở ngoài nhà tù lớn, thì niềm tin lại càng héo úa, khô quắt. Làm thủy lợi phường khóm chia ra từng toán, tuyên bố toán nào làm xong thì được về sớm, nhưng làm xong lại được đều động sang làm thêm chỗ khác. Vợ tù được khuyến dụ đi kinh tế mới cho chồng mau về. Nhà cửa chia cho cán bộ nhà nước ở, nếu không sẽ bị sung công. Mới đêm hôm trước “nhà nước” bắc loa đi kêu gọi đồng bào đừng nghe tin đồn của “bọn xấu” sẽ có việc đổi tiền, nhưng sáng hôm sau thì việc đổi tiền xẩy ra thật. Ngay cả ngày sinh, ngày chết, sách vở ca tụng “Bác”, gương anh hùng liệt sĩ đều láo khoét. Con cái đấu tố, rình mò báo cáo cha mẹ, vậy thì dân còn tin gì vào đảng, tin gì vào chính phủ, tin gì vào hàng xóm láng giềng, tin vào tình nghĩa con người. Vì dân mất lòng tin nên cán bộ cao cấp qua đời phải đăng cáo phó thanh minh là đã được các tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ... tận tình cứu chữa nhưng chẳng may, cuối cùng đã “chuyển sang từ trần”. Dù ông Thiệu có làm gì đi nữa, ông chết đi cũng còn để lại một danh ngôn là “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói...”.

Tuy vậy ở Mỹ bây giờ, tôi nghe nói nhiều người cũng hết niềm tin đối với đồng hương, đồng bào, vì chúng ta thường khinh rẻ nhau hơn là đối với người bản xứ nên sẵn sàng lừa dối nhau. Các bạn thử bình tâm nhìn lại xem mình đã bị lừa bao nhiêu lần vì những người cùng hoàn cảnh trôi giạt đến đây. Từ những ngày bỏ nước ra đi bị bọn tổ chức, chủ tàu lừa đảo bao nhiêu lần làm cho nhiều gia đình khánh kiệt, rồi đến đây, trong cùng cảnh khổ tha hương, con cọp chẳng ăn thịt đồng loại, mà người vẫn lừa bịp, xâu xé, chẳng hề tha nhau chỉ vì đồng tiền làm cho họ mất hết lương tri. Sau một lần là nạn nhân, liệu chúng ta còn có được niềm tin về con người và cuộc đời này không?

Tội nghiệp cho ai mà cũng tội nghiệp cho tôi. Ở trong tù, nếu không có lòng tin thì nhiều người đã treo cổ mà chết. Trong nghèo đói tận cùng, nếu không có lòng tin thì làm sao mà sống cho đến ngày mai. Trong nô lệ, bất công con người vẫn có hy vọng.

Và giữa con người với nhau, không còn niềm tin thì ta sống bằng gì, và sống với ai?


Xin tìm đọc “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI”, tuyển tập tạp ghi thứ 4 của Huy Phương. Xin gọi số (949) 654-7715 nếu bạn muốn sách có chữ ký tác gỉa và gởi tận nhà.
 
0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Wednesday, April 1st 2009

2:12 PM

Thơ Thơ

Thơ Thơ - Thuỳ Dzung phụ trách

Khi Gió Núi Đi Ngang

Người có biết ngay phút đầu gặp gỡ
Là mùa Xuân theo cánh én bay về?
Mùa Xuân hồng hừng hực lửa đam mê
Ta muốn uống cho hồn ta cháy đỏ...

Người có biết ngút ngàn xao xuyến đó
Vì gặp người, ta gặp lại mùa Xuân?
Mộng căng tròn như đồi ngực thanh tân
Tươi mát lắm, ngon như bầu sữa mẹ!

Tim băng giá ấm dần lên rồi hé
Một nụ tình trong suốt tuổi mười lăm
Đầy hương hoa ngan ngát buổi trăng rằm
Và tha thiết như màu môi mười chín!

Đây điện ngọc lòng ta, xin hãy đến
Đây ngai vàng rực rỡ, hãy đăng quang
Cứ lên ngôi, do dự sẽ muộn màng!
Vì trái đất vẫn quay, ngày sẽ hết

Ánh tà huy sẽ vàng thêm, mỏi mệt
Đêm sẽ về, vũ trụ sẽ mông mênh...
Đời vẫn trôi, dù thác núi gập ghềnh
Chỉ còn lại một vầng trăng xa lạ!

Chỉ còn lại một mùa Xuân tàn tạ
Hoa cúi đầu khi gió núi đi ngang
Mùa Xuân xanh nhường chỗ sắc Thu vàng
Những Hạ trắng và ngững ngày Đông xám...

Song Châu Diễm Ngọc Nhân

*

Nắng Yên Chiều Lạ

Mây chiều giăng thật thấp
Mấy con chuồn chuồn bay
Nắng cuối ngày xiên đất
Nhè nhẹ gió heo may

Ôi! Cánh hoa vừa nở
Hương sắc đậm xuân hồng
Bước đời duyên gặp gỡ
Sóng nhẹ nước đầy sông ...

Tuổi ngày xưa liến khỉ
Sao mình không gặp nhau
Khỉ nay già thùy mị
Lại quyến luyến tình trao!?

Em mặt hờn mặt giận
Ghét cảnh cũ người xưa
Tình tuổi thơ đã mất
Xóa dấu vết trời mưa...

Mây buổi chiều thật thấp
Em cách xa ngàn xa
Ta đứng yên nhìn đất
Hình như một cành hoa

Khỉ buồn làm mặt giận
Ta ít lời nói năng
Tuổi mười lăm đã mất
Nắng chiều cũng sắp tàn
Em đếm từng đêm lẻ
Giấc nặng trở trăn tình
Chiều một mình quạnh quẽ
Ta nhìn trời lặng thinh

Thy Lan Thảo

*

Hoa Trắng

Áo người hoa đỏ người vui
Áo con hoa trắng ngậm ngùi phận con
Mẹ ơi ba chục năm hơn
Hoa kia mấy độ tủi hờn với hoa
Cõi trần từ mẹ lìa xa
Đau thương, thân phận con là mồ côi
Đưa tay hái mộng, mộng trôi
Lỡ chân vấp ngã không người dìu nâng
Hoa không làm được mùa Xuân
Trăng không làm nổi một lần sáng trăng
Đã bao nhiêu độ tháng Năm
Nhìn người hoa đỏ con thầm lệ rơi
Đoạn trường ai vẽ mẹ ơi
Âm dương hai cảnh, hai nơi chia lìa
Cõi tiên vội vã mẹ về
Đường trần con mẹ não nề tiếc thương
Lòng con, đây, một nén hương
Đốt lên, khói mỏng như sương, nhạt mờ...
Nhìn bông hoa trắng bơ vơ
Mẹ ơi lệ đẵm hai bờ mắt nâu...

Ngô Minh Hằng

*

Góc Trời Bơ Vơ

Một mình nơi góc phố,
Nhìn kẻ lại người qua.
Mặt quen mà xa lạ,
Ồn ào lời tuôn ra.

Một mình nơi góc phố,
Giơ tay chào người qua.
Có người quen người lạ,
Ít khi là bạn ta.

Một mình nơi góc phố,
Nhìn đời qua kính đen.
Như người đui điếc nặng,
Mặc tiếng đời chê khen.

Một mình nơi góc phố,
Lặng lẽ đứng làm thơ.
Mười năm còn bở ngỡ,
Một góc trời bơ vơ.

Hồ Cô

*

Em Từ Lục Bát Bước Ra (*)

Em từ lục bát bước ra
Bước đi đâu cũng như là... đứng yên .....
Buồn không ai để bắt đền
Thì thôi đứng nép mái hiên nhìn trời

Mây bay thấp, đã mưa rồi
Nghĩ thương Lục Bát không rời châu thân
Mở câu sáu chữ ân cần
Khép câu tám chữ thấy gần mà xa!

Ai bày bậu muốn bỏ ta
Có nghe đau đớn thịt da bao giờ?
Ai bày đêm ngủ không mơ
Để nghe vầng trán nhăn tờ Hoa Tiên!
Leo lên cây bưởi mà chuyền
Giống như chim sẻ, chắc duyên vô cùng?

Hỡi ơi cây bưởi cây bòng
Cây Tầm Xuân nữa, ai lòng tương tư?
Tay tôi hứng mấy giọt mưa
Gội câu Lục Bát, ai chờ ngâm nga?

Em từ Lục Bát bước ra
Dẫu bên hiên đứng... coi là xa xăm!
Coi là em đã biệt tăm
Trải thơ Lục Bát, anh nằm ngủ đi!

Một mai mai một còn gì?
Còn thơ Lục Bát, ta thì còn nhau!

Huệ Thu

(*) Thi sĩ Luân Hoán nói Huệ Thu viết tiếp câu: "Em từ lục bát bước ra..."

*

Trò Chơi

Mình rủ nhau chơi ú tim
Sao anh trốn kỹ, em tìm chẳng ra
Vờ ngồi khóc dưới giàn hoa
Vội vàng tới dỗ… thế là anh thua!

Thơ ấu xưa đã qua mùa
Giật mình - sao vẫn chơi trò ú tim?
Vẫn là anh trốn, em tìm
Và em bật khóc một mình trong đêm!

Em thua. Anh hẳn đã quên.

Lương Đình Khoa

*

Lục Bát Cho Mình

Bẻ đôi giấc mộng cuộc đời
Vu vơ chia nửa tiếng cười tặng nhau
Ghép vần lục bát dăm câu
Che nghiêng cả một bờ sâu ân tình

Với tay, ta chạm chính mình
Hồng chăng cái nụ cười xinh năm nào?
Vớt trăng rải bóng bờ ao
Dăm ba luống cải xanh màu Tầm Xuân...

Chia đôi một chút bâng khuâng
Để cho cà kết nụ mừng Giêng - Hai.
Với tay chạm tháng năm dài...
Đem buồn gói lại trao ngày Thu, Đông.

Ta luôn thầm hỏi: buồn không?
Trót đem bán cả tuổi hồng ngày xưa
Với tay chạm chút hư thừa...
Dăm câu lục bát ngày mưa... tặng mình.

Tú Yên

*

Chúa Ơi!

Con quỳ lạy Chúa trên Trời
Sao cho Con trốn được người Con yêu
Rằng Con thiếu nợ đã nhiều
Nàng còn mua sắm đủ điều Chúa ơi!
Con cày hai dzóp hụt hơi
Người con yêu lại đua đòi chơi xe
Bảo gì Con cũng phải nghe
Nếu Con cãi lại là te tua đời
Trước đây Con tưởng gặp thời
Chúa ban Con được một người Con yêu
Giờ đây thân xác tiêu điều
Đời Con phải chịu rất nhiều đắng cay
Thân Con chẳng khác trâu cày
Nợ nàng Con trả dài dài chưa xong
Con giờ như cá lòng tong
Sụt ba chục ký, ốm nhong, rã rời
Thế mà đâu hết nợ đời
Nấu cơm, rửa chén, bị đòi... tù ti
Người đâu gặp gỡ làm chi
Để cho khổ thế còn gì là xuân?
Chúa ơi! Con khổ vô ngần
Chúa mà không giúp là thân con tàn
Con đang thiếu nợ trăm ngàn
Nhìn đồ Nàng sắm hai hàng lệ rơi
Con quỳ lạy Chúa trên Trời
Giúp cho Con trốn được người Con yêu!

Ẩn Dzanh

 

0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Wednesday, April 1st 2009

2:06 PM

Thơ Đấu Tranh SGT 605

- Phạm Thanh Phương phụ trách-
 
 Thơ Đấu Tranh là nơi hội tụ những vần thơ "tải đạo" của các thi nhân luôn luôn thấy trong lòng: "Ba mươi năm lẻ đá mòn. Niềm đau trang sử vẫn còn trơ trơ. Ba mươi năm nát hồn thơ. Có nghe chăng mảnh dư đồ giẫy đau?" Thơ Đấu Tranh tha thiết hy vọng được sự đóng góp, xướng họa, của thi hữu xa gần có chung hoài bão: "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm; Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"... Qúy thi hữu, độc giả nào cảm thấy cao hứng, muốn "dương buồm chở thuyền đạo, phóng bút đâm kẻ tà", xin vui lòng gửi bài về hộp thư tòa soạn, bên ngoài ghi: Thơ Đấu Tranh. - Trân trọng. Phạm Thanh Phương
 

 *
 
 Tâm Sự Người Lính Già
 

 (Cảm xúc sau khi đọc bài phỏng vấn Ch/h Mai Đức Hòa, CT Hội CQN/NSW và Nguyễn Văn Tây, CT Hội CQN/SA)
 

 Đời dang dở, chập chờm cơn gió bụi
 Biết khi nào được giây phút an bình
 Giang sơn buồn, khắc khoải gọi hồn trinh
 Đêm vắng lặng, lưng trời khan tiếng quốc
 
 Hoàng hôn phủ xuôi chiều theo vận nước
 Mãi lênh đênh, không định vị bến bờ
 Giọt lệ sầu, buông thả sũng cơn mơ
 Khi tỉnh giấc, cả khung trời thinh lặng
 
 Khắp non sông, từng nẻo đường cay đắng
 Không gian gầy, chìm ngập giữa gian manh
 Ôi! tin yêu như gió thoảng qua mành
 Đời nham nhở, thương tấm lòng bương trải
 
 Chốn lưu vong, không thiếu phường vô lại
 Quên San Hà, quên chính cả bản thân
 Hồn lâng lâng, ôm ấp giải phù vân
 Quên xương máu, quên niềm đau tỵ nạn
 
 Trách cao xanh, gieo chi điều ai oán
 Sắêt se đời, cảnh "tay đứt lòng đau"
 Chắp hai tay, ta qùy gối nguyện cầu
 Hồn chệch hướng, quay về trong chính nghĩa
 
 Phạm Thanh Phương
 
 *
 
 Hương Thơm Còn Lại
 

 Rồi cát bụi sẽ trở về cát bụi
 Sẽ hư vô như vốn đã hư vô
 Còn gì đâu ngoài tro lạnh, hoang mồ
 Nếu chẳng chút hương thơm đời tưởng nhớ
 
 Là thế đó, nhưng nẻo đường mê lộ
 Vẫn bao người mải miết chẳng dừng chân
 Để những hư danh, tham vọng cõi trần
 Làm xã hội, làm luân thường hư hoại
 
 Này ác độc, hung tàn, ngừng tay lại!
 Tang thương kia ngươi tạo quá nhiều rồi
 Máu thành sông, xương trắng đã nên đồi
 Và dân nước trong xích xiềng, ngục đỏ!
 
 Ngươi có biết bốn phương cuồng nộ gió
 Lòng đại dương đang cuồn cuộn sóng gầm
 Mạch đất chuyển mình, rầm rập bước chân
 Để chờ đợi hoả sơn giờ phun lửa???
 
 Để thét lớn tiếng hờn căm chất chứa
 Tự bao năm tàn độc phủ lên đời
 Ngày ấy đã gần. Gần lắm ngươi ơi...
 Nhìn lịch sử loài người, ngươi khắc biết!
 
 Hễ gian ác, độc tài là tự diệt
 Bởi luật đời, vay trả rất công minh
 Tỉnh ngay đi, sông núi đã vươn mình
 Và thần tượng của ngươi đang mục rữa!
 
 Bởi tuổi trẻ, trái tim rừng rực lửa
 Yêu tự do, yêu dân chủ, công bằng
 Sẽ chẳng yếu hèn, khuất phục gian manh
 Mà vùng dậy, diệt trừ loài bạo chúa!
 
 Hãy thức tỉnh, đừng giữa ngày, mê ngủ
 Trước lương tâm, mau sám hối, qui hàng!
 Để quê hương và dân tộc Việt Nam
 Còn vì chữ giống nòi mà tha tội!
 
 Đêm sắp cạn, bạo quyền đang hấp hối
 Và muôn dân đang điểm mặt tội đồ
 Ngươi muốn ươn hèn, vạn kiếp danh nhơ
 Hay đảm lược, sử hùng, tên sáng chói???
 
 Xé thẻ đảng, đáp lời sông núi gọi
 Và đứng lên cùng dân tộc, xây đời
 Cát bụi kia, rồi cát bụi, ngươi ơi....
 Chỉ còn lại tấm bia vàng vạn thuở
 
 Ngô Minh Hằng
 
 *
 
 Ngày Xuân Buồn
 

 Thập Thủ Liên Hoàn
 

 1
 Ngày xuân đến rồi anh thấy không
 Mênh mông bát ngát đứng xa trông
 Con cò bay mãi trong trời lạnh
 Chiếc lá tung vèo trước gió đông
 Cũng nắng hanh vàng trên giậu biếc
 Lại làn ánh sáng ngẩn ngơ lòng
 Chiều rồi chợt thấy trong đêm vắng
 Luống cải ngày nào lại trổ bông
 
 2
 Trổ bông rồi lại nhớ bãi dâu
 Chiếc thuyền năm ấy trở về đâu
 Vầng trăng mới đó trên hè vắng
 Đàn sẻ hòa vang trước mái lầu
 Người đến người đi nơi ấy nhỉ
 Ai về ai ở suốt canh thâu
 Anh ơi trong những câu anh nói
 Chẳng gửi về em lấy một câu
 
 3
 Một câu chẳng gửi hết đau thương
 Giải phóng dân về khắp bốn phương
 Chỉ thấy người nghèo xơ xác đói
 Mà trông bụi cỏ cũng thê lương
 Bao giờ ngồi giữa nơi đô hội
 Để thấy vào ra chật phố phường
 Chẳng biết cây đa ngoài bãi vắng
 Đâu ngờ có chịu nổi phong sương
 
 4
 Phong sương quặn thắt chợt lòng đau
 Biết lấy gì đâu gửi đến nhau
 Mặc kệ cho ai về phía trước
 Còn ta cứ chịu kẻ đi sau
 Cuối vườn vừa thấy thơm hoa bưởi
 Sầu ngõ là bay một lá sau
 Mà có về thăm nhà không đấy nhỉ
 Ta thấy là u bạc mái đầu
 
 5
 Bạc đầu còn chửa được yên thân
 Còn cháu con xa bạn hữu gần
 Sáng sáng lặng nghe hoa cúc rụng
 Đêm đêm tỉnh giấc thấy chuông ngân
 Đói no rách rưới như không biết
 Nghèo khổ già nua cũng có ngần
 Người ạ bao giờ người trở lại?
 Trời xanh mấy trắng cứ phân vân
 
 6
 Phân vân từ độ tỉnh cơn mơ
 Số phận lao đao thật chẳng ngờ
 Khúc hát tuy buồn như lúc ấy
 Câu ca còn mãi đến bây giờ
 Đã ba chuyện cũ thêm đau xót
 Còn chút lòng xưa có ngẩn ngơ
 Gửi lại hương lòng cho gió thoảng
 Tưởng rung nhè nhẹ mất đường tơ
 
 7
 Đường tơ rung nhẹ xưa hào kiệt
 Múa háy vang lừng chẳng khác đâu
 Ta lại đành cam người chiến quốc
 Cho thơ vang mãi chốn giang đầu
 Còn chăng khói sóng trên sông lạnh
 Hay chỉ sương rơi bạc gậm cầu
 Kẻ ở người về đau đớn nhỉ!
 Nỗi lòng còn đó suốt canh thâu
 
 8
 Canh thâu nào biết ngỏ cùng ai
 Thôi dẫu cho lòng có nhạt phai
 Mùa lạnh sương rơi dòng nguyệt khuyết
 Canh khuya ngõ trúc bóng trăng cài
 Lòng son nào thấy người đâu nhỉ
 Gươm báu còn đâu những kẻ mài
 Thôi thế buông xuôi năm bảy lẽ
 Đành bưng hai mắt lấp hai tai
 
 9
 Tai mắt thôi đành lấp vậy thôi
 Mưa sương nặng hạt gió pha phôi
 Ta không tìm được tâm hồn lớn
 Sao cứ trông chờ sự nghiệp dôi
 Đã biết tấm lòng tuy sắt đá
 Nhưng mà danh lợi phấn son chơi
 Cho nên đừng trách nhau gì cả
 Có trách ai chăng chỉ trách trời
 
 10
 Trách trời chẳng độ Việt Nam mình
 Đã chết hồn thêm chết cả tình
 Chỉ thấy đó đây tràn khói lửa
 Nào tìm đâu thấy vẻ thanh bình
 Đình bao nhiêu ngói đình chưa đẹp
 Trúc đứng một cây trúc vẫn xinh
 Anh ạ ngày nào anh tát ngước
 Đổ trăng đừng đổ ánh bình minh
 
 Huệ Thu
 
 *
 
 Kính Chào Kémoularia
 
 Kính chào Kémoularia
 Sứ giả tự do
 Tiếng nói của con người đau khổ.
 Chúng tôi ra đi
 Vượt Trường Sơn hiểm trở,
 Lấy tay yếu cản đè sóng dữ,
 Không cần sống, chỉ cần dân chủ,
 Tìm về thế giới tự do
 Ở đâu áo ấm cơm no?
 Trăng Thu rung mãi tiếng hò nhặt khoan.
 Chúng tôi khinh nguy nan,
 Tìm tấm lòng cởi mở.
 Lúc gặp nhau vui mừng hớn hở,
 Dù mới quen như biết từ lâu.
 Mời nhau này một miếng trầu,
 Chuyền tay vê điếu thuốc lào cũng vui.
 Chúng tôi đổ mồ hôi,
 Nâng niu từng tấc đất,
 Mỗi tấc đất là tấc lòng tấc ruột,
 Là máu xương, là sự nghiệp ông cha.
 Mà nay lìa cửa, lìa nhà,
 Bởi say ánh sáng, chẳng thà thiêu thân.
 Năm châu triệu triệu bước chân,
 Của chúng tôi: Những người dân cần cù.
 Ơi Tây Đức mịt mù thăm thẳm,
 Ơi Nam Dương ngàn dặm, héo hon!
 Bốn phương giăng mắc núi non,
 Lưới nào bủa được cánh con chim trời?
 Ơi Tây Tạng, những lời nói ngọt,
 Tại làm sao chẳng lọt vào tai?
 Ơi Hung Gia Lợi anh tài,
 Nắm tay thành bức tường dài: chúng ta,
 Kính chào Kémoularia,
 Kính chào Liên Hiệp Quốc.
 Phẩm giá con người từ lâu nhơ nhuốc,
 Chúng tôi đi để chuộc lấy linh hồn.
 Rồi những bình minh, rồi những hoàng hôn,
 Chợt tỉnh lại ngoảnh về đất Bắc,
 Thương cha mẹ đày trong gót giặc,
 Nhớ từng lối cỏ bờ tre,
 Mùa nào lúa chín đỏ hoe,
 Mùa nào gió trở se se, hỡi mình?
 Nếu lấy sống làm vinh,
 Chúng tôi không sống nhục.
 Chỉ có một cực hình,
 Là cúi đầu gục mặt.
 Chúng tôi đi, bởi không cam què quặt,
 Không học theo lang sói sủa quân thù,
 Rạch Cái Sắn thành khoai, thành đỗ,
 Rừng cao nguyên thành lúa, thành cơm,
 Đánh gianh gìn giữ cọng rơm,
 Ở đây tưởng thấy mùi thơm quê nhà.
 Ơi Kémoularia!
 Biết lấy chi làm quà,
 Trao vào tay sứ giả?
 Xin cho gửi niềm thống khổ,
 Mồ hôi nước mắt tin yêu.
 Xin cho gửi lời chào,
 Những ai cùng cảnh ngộ,
 Tiếng nói chúng tôi dù rằng bé nhỏ
 Nhưng là tiếng nói can trường.
 Nhờ tình yêu dẫn lối đưa đường
 Hòa trong tiếng những người “đồng chí”.
 Chúng tôi viết giữa không gian hùng vĩ,
 Giữa lòng thế kỷ hai mươi:
 “Chúng tôi là người,
 Chúng tôi muốn làm người.”
 
 Hà Thượng Nhân
 
 
 THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN
 
 THOÁT KHỎI NƠI
 
 Thoát khỏi nơi ngục tù Cộng sản
 Nơi đọa đày thê thảm nhất trần gian
 Hỏi ai không mong đợi?
 Không ít nhiều phấn khởi, vui tươi?
 Riêng ta thầm câm nghĩ ngợi
 Đôi khi bật tiếng thở dài
 Ta không thể nào thoải mái
 Hớp rượu, hớp trà, nói cười, hứng khởi
 Khi mẹ cha ta trong đau đớn đã lìa đời
 Khi thơ ta chưa thoát được ra ngoài
 Đe dọa rất nhiều mà tất cả còn nguyên!
 Ta làm sao tránh khỏi ưu phiền
 Không nghĩ ngợi!
 Khi áo cơm cứ quanh quẩn rối bời
 Ta làm sao có sinh thú trên đời
 Khi mục đích cả đời ta ước nguyện
 Không phút nào quên nung nấu triền miên
 Trong óc tim ta ngày đêm thúc giục!
 Nay, nếu ta thoát vòng tù ngục
 Một phần công việc đã làm xong
 Ta có thể an lòng
 Chén rượu, chén trà, thảnh thơi
 Bên những người thân thiết
 Nhưng số phận của ta quả là khắc nghiệt
 Có lẽ Trời bắt ta phải chịu nhiều rên xiết
 Để cho ta có thể hoàn thành công việc
 Dùng thơ ca ngăn họa đỏ lan tràn
 Nên giữa xà - lim đen tối lụi tàn
 Thơ lại bùng lên, âm thầm tỏa sáng
 Khiến ta tự hỏi, bàng hoàng:
 - Lửa thiêng đó từ đâu mà tới?
 Từ trên thượng giới
 Trời cho
 
 (1988- Hoa địa ngục 2)
 
 
 NHÌN XUẤT CƠM
 
 Nhìn xuất cơm- cực hình tra tấn
 Vừa khổ đau, vừa căm giận bừng bừng
 Chúng đương xẻo của ta từng miếng thịt
 Hút của ta từng giọt máu bi thương
 Chúng cho ta ăn thua một con mèo
 Và khoái trá khi nhìn ta xương da lủng củng
 Đi đứng lờ đờ, xanh bủng, mắt mờ run
 Chúng bảo ta vẫn còn nghị lực
 Vẫn ngấm ngầm sáng tác
 Tiếp tục ý đồ xấu xa bôi xấu Đảng
 Lần thứ hai trước mắt địa cầu
 Chúng hứa bắt ta phải quỵ gối, cúi đầu
 Ngậm đắng nuốt sầu tới ngày lấp lỗ
 Mang theo thơ phú xuống mồ
 Nhờ Diêm Vương xuất bản
 Cho loài giun đất đọc ngâm!
 Ta không trả lời
 Lấy mùi xoa lau qua vầng trán
 Vầng dương còn cháy đỏ
 Dẫu hoàng hôn!
 
 (1987 - Hoa địa ngục 2 , trang 362)
0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Saturday, January 3rd 2009

7:47 PM

Thơ Tranh Đấu SGT 592

- Phạm Thanh Phương phụ trách

Thơ Đấu Tranh là nơi hội tụ những vần thơ "tải đạo" của các thi nhân luôn luôn thấy trong lòng: "Ba mươi năm lẻ đá mòn. Niềm đau trang sử vẫn còn trơ trơ. Ba mươi năm nát hồn thơ. Có nghe chăng mảnh dư đồ giẫy đau?" Thơ Đấu Tranh tha thiết hy vọng được sự đóng góp, xướng họa, của thi hữu xa gần có chung hoài bão: "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm; Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"... Qúy thi hữu, độc giả nào cảm thấy cao hứng, muốn "dương buồm chở thuyền đạo, phóng bút đâm kẻ tà", xin vui lòng gửi bài về hộp thư tòa soạn, bên ngoài ghi: Thơ Đấu Tranh. - Trân trọng. Phạm Thanh Phương

Lạc Đường

Ai mơ tưởng, "giao lưu" loài Cộng phỉ
Tạo đa nguyên, đa đảng, chuyển xoay vần
Cùng giao hoà, dân tộc hết trầm luân
Tay xiết chặt, "canh tân" tìm hạnh phúc

Thương biết mấy, những tâm hồn vẩn đục
Lừa bịp dân, phản bội cả giống nòi
Xây mưu đồ bên vũng máu còn tươi
Làm công cụ bầy sói lang, Cộng Phỉ

Từ bản chất, lọc lừa hồn nghĩa khí
Gom niềm tin, dâng hiến lũ tham tàn
Loạn nhân tình, đất nước lún nghiệt oan
Vờ chẳng thấy, bảo "dân giầu nước mạnh"

Đời khuất lấp, tâm hèn, thường nhiều mánh
Nay rêu rao giác ngộ, dựng Sơn Hà
Mai đói nghèo, dệt gấm, vóc, nguyệt, hoa
Che thực chất, loài thú hoang vô lại

Ai chẳng biết, Quê Hương mầu nhợt tái
Vẽ làm chi, thêm nhạt sắc phai mầu
Thôi quay về, chung sức gánh niềm đau
Cùng đốt lửa, đâu lưng đòi tự quyết.

Phạm Thanh Phương

*

Xuân Ơi, Xuân Về Chưa?


Hoa vàng, mai thắm nở
Phải Xuân về đấy không?
Quê hương ơi, cách trở
Bao xuân rồi, nhớ mong!

Quê ơi, thương nhớ lắm
Những mùa Xuân ngọc ngà
Dù Xuân nghèo, tao loạn
Nhưng tình Xuân thiết tha!

Ba mấy năm lưu lạc
Xuân về chưa, Xuân ơi,
Nhìn theo chòm mây bạc
Hồn Đống Đa bồi hồi

Mừng Xuân, ai yến tiệc
Vui hưởng cái phồn hoa
Riêng ta còn mải miết
Đợi mùa Xuân thái hòa

Đợi hoài sao chưa thấy
Chỉ thấy mình đơn côi
Thấy cờ vàng vẫy gọi
Đàn con yêu bên trời

Quê ơi, bao giờ nhỉ
Mùa Xuân được hồi sinh
Người nhìn người tỉnh mộng
Tặng cho nhau nhân tình
Bao giờ đàn chim Việt
Bay về tổ ấm xưa
Tìm mảnh đời đã mất
Xuân ơi, Xuân về chưa???

Ngô Minh Hằng

*

Đừng Quên Chuyện Tháng Tư

Gửi Khiêm - Bộ QP

Buổi chia tay, trời hanh rực nắng
Bước về từ cõi lạ xa xôi
Phế hưng đời vẫn luôn yên lặng
Nén chặt cô đơn- đứng ngó đời…!

Trong cuộc chơi có nhiều dối gian
Để khi cháy túi mới kinh hoàng
Thì ra thân phận ta con chốt
Tướng bỏ đi rồi, chốt rã tan

Bỏ súng lên rừng ta đốn củi
Bạn bè lắm đứa giả ngu ngơ
Thân như cục đá ai chào hỏi
Đói lả nhăn răng lũ dại khờ…

Đêm nằm rờ rẫm lên thân thể
Mới biết xương sườn ta cứng cong
Vuốt nhẹ lưỡng quyền ta sợ bể
Hốc mắt thâm sâu thấu tận lòng

Ta đâu cần biết làm chi tội
Nên thèm đủ thứ tám năm dài
Mấy chục đứa mình nay được thả
Tao bắt tay mày hẹn tương lai…

Buổi trưa gay gắt ga Bình Triệu
Bịn rịn quen hơi cảnh tội tù
Chia tay không nói mà trong mắt
Nhắc nhở đừng quên chuyện tháng tư

Mười năm, ừ nhỉ cứ mười năm
Không phải ngu ngơ vẫn cứ lầm
Giả dại cho qua thời dâu bể
Bước về coi bộ vẫn xa xăm…

Thy Lan Thảo

*

Những Phím Đàn


Những phím đàn reo khúc tự tình
Gọi hồn tử sĩ lúc bình minh
Ngàn cơn thác đổ trên đầu giặc
Máu ngập sơn hà… buổi chiến chinh

Ai ở đầu ghềnh, ai cuối sông
Có nghe nguồn lệ chảy xuôi dòng
Trời Nam biển Bắc hờn đôi ngả
Con cháu tiên rồng lạc tổ tông

Những phím đàn reo khúc biệt ly
Mây sầu giăng bước kẻ ra đi
Tám phương sông núi màu tang tóc
Mối hận muôn đời mãi khắc ghi

Nửa hồn gửi lại chốn quê hương
Ôm mối sầu thương, nỗi đoạn trường
Bãi cát, cồn hoang thân viễn xứ
Nửa hồn phiêu giạt với tang thương!

Những phím đàn reo khúc thái lai
Non sông rực rỡ nét trang đài
Đá cười nghiêng ngả bên ngàn liễu
Biển hát lời tình, trăng đắm say

Chim hót bài ca mừng sức sống
Muôn hoa đua nở tiết đông phong
Lâm viên một cõi ngời trong nắng
Em với tình yêu … thắm nụ hồng

NPNA

*

Uống Nước Nhớ Nguồn

Uống nước nhớ nguồn…
Dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm văn hiến
Đâu dễ gì quên nguồn cội tổ tiên
Chân bước đi lòng nặng trĩu ưu phiền
Ngoảnh mặt lại quê hương dần khuất dạng

Mắt đăm đăm nhìn mây trôi lãng đãng
Lòng dặn lòng xin hẹn một ngày mai
Bước trở về trong rực rỡ tương lai
Để không thẹn hồn thiêng sông núi Việt…

Để không hổ danh anh hùng tuấn kiệt
Mẹ sinh ra, mẹ hãnh diện đàn con
Ý chí quật cường, trung dũng sắt son
Vì vận nước, đành cúi đầu chấp nhận!

Ba mươi năm, nơi phương trời lận đận
Làm được gì, cho rạng rỡ tổ tông
Lo kế sinh nhai, mưu cầu sự sống
Đất nước người, ai sống chết mặc ai…

Thời gian đâu nghĩ đến chuyện ngày mai
Ôi, mộng ước như vầng mây bao phủ
Dẫu không quên, dẫu lòng luôn ấp ủ
Đành buông xuôi cho năm tháng dần qua

Các con đây tủi hổ với sơn hà
Chẳng thể hiện lời thề trong quá khứ
Xin gục mặt, xin một lần tha thứ
Đàn con xưa mòn mỏi kiếp ly hương
Đàn con xưa dầu dãi tóc pha sương

Còn đâu nữa oai hùng như thuở trước
Còn đâu nữa nhịp quân kỳ tiến bước
Ôi, chỉ còn trơ lại chút tàn hương
Thân dật dờ trong kiếp sống nhiễu nhương

Nhìn về quê Mẹ ruột đau như cắt!
Ba mươi năm Mẹ trông chờ mỏi mắt
Đàn con xưa, thân chiến bại không về
Ngày qua ngày trong vùng tối u mê

Miếng cơm, manh áo, biết gì hơn nữa...
Buông xuôi tay cho nhuệ khí một thời
Biết ngày mai có về được quê tôi
Gửi được nắm xương tàn trên đất Mẹ !

Hay muôn thuở là linh hồn lặng lẽ
Nơi xứ người quạnh quẻ lệ từng đêm
Ba mươi năm…vẳng tiếng Mẹ ru êm
Con ơi… uống nước nhớ nguồn…đừng quên…

nguyenphanngocan - Cal.

*

Nỗi Lòng Người Viễn Xứ


Đồng kính tặng tất cả Anh Hùng Chí Sĩ đang đấu tranh vì Chính Nghĩa Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Quê Hương VIỆT NAM

Một ngày lên đường
Sông khuya mờ sương
Hận đời ly loạn
Ra đi mà vương
Mắt Mẹ già rưng sầu
Bóng con đò, luống trầu
Và bao nhiêu hồn thiêng sông núi
Đã xa mờ, xa mờ

Vượt trùng dương ngàn
Ngờ đâu hoang tàn
Hải tặc man rợ
Gieo bao họa tang
Sóng dập dồn xác người
Máu trẻ thơ loang tận chân trời
Tuổi xuân thì đang thanh tân ngày qua sắc thắm
Bỗng hãi hùng trong dập vùi nát tan đời hoa
Bởi lũ hung tàn
Ác hơn sói lang!
Ôi xiết bao tiếng hờn căm gào thét
Còn vang mãi trên biển Đông đến ngàn năm sau ...

Giờ nơi xứ lạ
Qua bao mùa tuyết rơi trắng xóa những con đường
Tưởng như màu tang thê lương
Trên quê hương vất vả
Trên những con tàu năm xưa xuyên đại dương
Giờ đây lòng tràn dâng nhớ thương
Thân nghe buốt thấu
Tim ta rướm máu
Thề quyết dấn thân một lòng đấu tranh
Như gương bao anh hùng xưa nơi sa trường ghi sử xanh

Sẽ một ngày trở về
Giữ trọn lời thề
Quyết óc tim này bừng sôi khí thế
Diệt tan tành bạo lực u mê
Ta sẽ thấy lại Mẹ già rạng rỡ nét cười
Sông núi ruộng vườn thêm sắc xanh tươi
Và trên khắp nẻo đường đất nước
Trăm triệu dân lành đồng hát mừng Dân Chủ, Tự Do

Khải Huy


THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN

NHỮNG VẦN THƠ

72
Hà Nội ơi, từng mỗi bước đi
Trong màu sinh hoạt xám than chì
Trong lòng dân chúng thành đô cũ
Cảnh cũ muôn ngàn đan tiếc ghi!

73
Cách biệt nhau rồi, hải cảng ơi!
Thương em lao khổ tận phương trời
Bàng hoàng sống lại mùa xa cũ
Ta với em vui giữa hội đời

74
Với cuộc đời không mảy may ước hẹn
Cảnh tù lao khổ đói đã dần quen
Riêng mẹ cha già hận ấy lòng con
Tới tàn kiếp niềm đau càng giữ trọn!

75
Có chuyến tàu khuya chạy về ga vắng
Có những chân trời tỏa nắng xa xăm
Có lưỡi dao găm, sâu cắm tâm tình
Đêm mưa lạnh, trở mình ho rũ rượi

76
Một chấm mờ xanh ngọn đèn vặn nhỏ
Một làn gió thoảng bâng quơ
Một buông rơi nhẹ ngoài sân cỏ
Một mùi hương thầm thoảng đơn sơ..

77
Thiên đường cụ Mác hoặc tù lao!
Địa ngục còn xin kính cẩn chào
Nếu cứ tin đài, tin sách báo
Có ngày mếu máo với vêu vao!

78
Nhìn tù nhân ăn, nhìn tù nhân làm lụng
Nhìn số lượng tù, cả án lẫn tập trung
Anh sẽ hiểu một điều quan trọng:
Tù lao, ngành kinh tế vô song!

79
Anh đừng than thở tù lâu
Anh đừng thắc mắc vì đâu anh tù
Một khi anh hiểu trại tù
Là khu sản xuất bội thu hàng đầu

80
Ôi, cuộc sống, người tồi hơn cái chết
Ta nằm run trong cơn sốt bình minh
Bóng tù lao xóa bỏ bóng thâm tình
Đêm đao phủ cực hình đem dụng hết!
 

0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Friday, December 19th 2008

10:12 PM

Luật Pháp Phổ Thông - SGT 591

- LS Lê Đình Hồ-

[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]

Hỏi (ông Trương V.K): Con tôi bị cáo buộc về tội cướp có vũ khí. Cháu không chịu nhận tội. Sau đó được xét xử bởi bồi thẩm đòan. Cuối cùng bồi thẩm đòan cho rằng cháu có tội.

Cách đây 4 tuần lễ tòa đã tuyên phạt cháu 6 năm tù và buộc cháu phải thụ hình tối thiểu là 4 năm.

Đây là lần đầu tiên cháu gặp rắc rối với pháp luật. Cháu có cho biết là bản án quá nặng và yêu cầu tôi liên lạc với LS phụ trách trường hợp của cháu để kháng án.

Xin LS cho biết là cháu có nên kháng án hay không?

*

Trả Lời: Điều 97(1) của Đạo Luật Hình Sự (Crimes Act 1900) quy định rằng: “Bất cứ ai, trang bị với vũ khí, hoặc khí cụ tấn công, hoặc đồng lõa với người khác để cướp hoặc hành hung bất cứ người nào . . . sẽ bị tù 20 năm” (Whosoever, being armed with an offensive weapon, or instrument, or being in company with another person, robs, or assaults with intent to rob, any person. . . shall be liable to imprisonment for twenty years).

Trong vụ Veale v R [2008] NSWCCA 23, “khi nạn nhân đang đi bộ gần bãi đậu xe, bị cáo lái xe vào bãi đậu và lái nhanh về hướng nạn nhân. Bị cáo nhảy ra khỏi xe với lọai nón nĩ trùm đầu và mặt, chạy theo sau nạn nhân và giựt chiếc túi mà nạn nhân đang mang, chạy trở lái xe và xe bỏ đi” (as the victim was walking adjacent to a car-park, the accused drove into the car-park and then quikly towards her. He emerged from the car with a balaclava covering his face, ran after her and grasp a bag she was carrying, returned to the vehicle and drove off).

“Nạn nhân và chồng của cô đã chạy đến trạm xăng, và trong túi xách, ngòai cái ví, điện thọai di động và giấy tờ cá nhân, còn có số tiền mặt $20,000 mà nạn nhân mang đi gởi ngân hàng. Chiếc xe được nói đến là chiếc xe bị đánh cắp vào chiều hôm trước đó và đã dụt bỏ sau vụ cướp” (The victim and her husband ran to a service station and in the bag was, in addition to a purse, mobile phone and personal papers, a sum of $20,000 in cash which the victim was taking to the bank. The car to which reference has been made was stolen on the previous evening and abandoned after the robbery).

Sau đó bị cáo bị bắt và bị kết tội cướp có vũ trang. Bị cáo bị tuyên án 10 năm tù ở và buộc phải thụ hình tối thiểu là 7 năm. Bị cáo bèn kháng án với các lý do sau:

1.”Quan Tòa đã sai lầm không chịu xem xét tình cảnh đặc biệt” (His Honour erred in failing to find special circumstances).

2.”Quan Tòa đã sai lầm do sự quyết định rằng hồ sơ hình sự của bị cáo là yếu tố gia trọng của sự vi phạm” (His Honour erred by finding the accused's criminal record was an aggravating feature of the offence).

3.”Oâng Chánh Aùn đã sai sót trong việc cho giảm án đối với sự nhận tội” (His Honour erred in the discount allowed for the plea of guilty).

4.”Oâng Chánh Aùn đã sai sót không chịu lưu tâm đến tình trạng sức khỏe của bị cáo và sự kiện về việc bị cáo đang thụ hình trong khu giam giữ có sự bảo vệ” (His honour failed to take into account the accused's medical condition and the fact that the accused was serving his sentence in protective custody).

5.”Bản án rõ ràng là quá nặng” (the sentence is manifestly excessive).

Tòa Kháng án Hình Sự đã tạm hõan xét về lý do thứ nhất.

Về lý do thứ hai Tòa đã cho rằng điều 21A(4) của Đạo Luật Hình Sự [về Thủ Tục Tuyên Aùn] 1999 [Crimes (Sentencing Procedure) Act] quy định rằng: “hồ sơ trước đây của phạm nhân tự nó không làm cho tội trạng trầm trọng thêm” (an offender's prior record does not aggravate the offence itself). Vị thẩm phán tọa xử đã không lưu ý về sự quy định này của luật pháp. Vì thế tòa đồng ý với lý do này.

Về lý do thứ 3, ông Chánh Aùn đã sai sót trong việc giảm án đối với sự nhận tội. Về lý do này “Tòa đã cho rằng bị cáo bị cáo buộc vào tháng 6.2005. Bản tóm lược về sự truy tố của Công Tố Viện cho thấy rằng bị cáo được chuyển giao để xét xử vào ngày 20.7.2005 và việc xét xử được lên danh sách tại Tòa Aùn Vùng vào ngày 29.5.2006. Rồi có sự thương lượng giữa hai bên, Công Tố Viện đã thay thế một tội danh nhẹ hơn và bị cáo đã nhận tội đó tại Tòa Aùn Vùng vào ngày 30.5.2006” (The Court has indicated that the accused was charged in June 2005. The Crown case sumary indicates he was committed for trial on 20 July 2005 and his trial was listed before the District Court on 29 May 2006. There were then negotiations between the parties, the Crown substituted a lesser charge and the accused pleaded guilty to it before the District Court on 30 May 2006).

Việc Tòa đưa ra quyết định để giảm thời gian thụ hình còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Ngay cả trong trường hợp sự nhận tội được đưa ra ngay sau khi bị cáo buộc. Dù sự nhận tội được đưa sau chậm hơn, hoặc ngay cả trong trường hợp sự nhận tội phải triển hõan vì công tố viện vẫn duy trì việc cáo buộc với một tội trạng nặng hơn và lý do nhận tội trễ là vì công tố viện vừa thay thế một tội trạng khác nhẹ hơn. Tất cả các điều đó đều do sự cứu xét của vị thẩm phán tọa xử. Vị thẩm phán tọa xử có tòan quyền trong việc cân nhắc các yếu tố trước khi quyết định thời gian thụ hình.

Riêng về lý do ông Chánh Aùn đã sai sót không chịu lưu tâm đến tình trạng sức khỏe của bị cáo và sự kiện về việc bị cáo đang thụ hình trong khu giam giữ được bảo vệ. Về vấn đề này bị cáo đưa ra bằng chứng rằng bị cáo không thể tự mình bảo vệ được cho mình khi còn ở trong tù vì thế bị cáo đã được đưa vào giam tại khu được bảo vệ. “qúy vị không được ra ngòai nhiều giống như những người khác, quý vị bị giới hạn trong khu có hình trái xoan, quý vị không được thả ra cho đi làm việc, quý vị không đi đâu cả, giống như tôi không được đi qua khu tù lọai C vì hầu hết họ là tù cốt cán” (you don't get out as much as everyone else, you're restricted to ovals, you don't get work release, you don't go, like I can't go to a C class gaol because most of them are main). Tuy nhiên, Tòa cho rằng bằng chứng về việc thụ hình trong khu được bảo vệ không phải vì thế mà suy đóan rằng điều kiện của bị cáo sẽ khó khăn hơn những tù nhân khác.

Riêng về lý do bản án rõ ràng là quá nặng, Tòa cho rằng hình phạt tối đa dành cho tội trạng này là 20 năm. Thống kê cho biết là 291 ản án của tội trạng này đã có thời gian thụ hình trung bình là 7 năm 6 tháng. Trong đó có 1 vụ với bản án 14 năm, 19 vụ 6 năm và một vụ phải thụ hình tối thiểu là 10 năm.

Tuy thế, cuối cùng Tòa đã chấp nhận lập luận của bị cáo và giảm án xuống còn 8 năm và buộc bị cáo phải thụ hình tối thiểu là 6 năm.

Dựa vào phán quyết vừa trưng dẫn ông có thể thấy được rằng tội trạng mà con của ông phạm phải là một tội hình sự nghiêm trong vì hình phạt tối đa dành cho tội trạng này là 20 năm tù.

Chúng tôi không thể đưa ra ý kiến liên hệ đến việc liệu bản án xử con của ông là quá nặng hay không [6năm và buộc phải thụ hình tối thiểu là 4 năm] vì trong thư ông không kể rõ tình tiết của sự vi phạm.

Nếu ông có thì giờ, xin ông liên lạc với chúng tôi để xem liệu trường hợp của con ông có nên kháng án hay không. Thực ra, ông nên làm theo ý của cháu. Vì khi khán án với lý do là bản án quá nặng thì cháu không có gì để mất cả. Hoặc là y án hoặc sẽ được giảm án.

 

0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Friday, December 19th 2008

10:08 PM

Khó Dễ Tự Mình

- Mõ Sàigòn-

Trình Bạch Thà người ở Thương Lăng, tỉnh Quảng Đông, nổi tiếng là người chuyên làm việc thiện, đến nỗi mẹ là Trịnh thị, mới nhân lúc ngồi ăn khoai lụi với con, mà nói với Thà rằng:

- Mần việc thiện dĩ nhiên là tốt, nhưng nếu con cứ chăm chú vào đó tới độ không lý gì đến chữ phận duyên, thì ít nữa già háp mần răng mà tính được. Chẳng bậy lắm ư?

Thà nhìn mẹ như đo lường hư thực, rồi từ tốn đáp:

- Văn chưa đạt, võ chưa thông, lại chưa từng trải qua những ngày khổ nhọc, thì dính chữ phu thê làm chi cho đời thêm oan trái? Lại nữa, một khi đã có vợ rồi, thời không phải muốn đi là đi, muốn ở là ở. Thậm chí có khi biết rõ người ta đang hoạn nạn đàng kia, hoặc… chết mẹ bên này, thời cũng không thể hết mình qua cứu giá! Còn bây giờ. Cho dù bão chưa dzô, lũ chưa đến, nhưng thân tâm lúc nào cũng như mũi tên trước sợi dây cung. Chỉ ới lên là phập. Không phải đi thưa về trình. Không phải xuống giọng ỉ ôi, lại càng không phải để ý sắc mặt mà buông lời cho phải. Nay con mẹ đang thoải mái thế này - chẳng những mẹ không được vui - mà lại muốn đẩy xô con vào cung đường bi lụy, là nghĩa làm sao?

Đoạn mở to mắt nhìn mẹ. Trịnh thị, bất chợt hiểu được tâm ý của con, nên bỗng thấm câu… hai phương trời cách biệt. Buồn thiu đáp:

- Thời gian như bóng câu qua cửa, mà không tính chuyện trăm năm, thời đến lúc tuổi chiều xê xế, rồi trông mong tìm gặp, thì trước là không còn lanh lợi để chọn bạn tri âm, sau cái đẹp cái phê cũng nằm mơ không thấy!

Rồi giọt lệ ứa tràn ra khóe mắt. Thà thấy vậy, mới chột dạ nghĩ rằng: "Mẹ già như trái chín cây, gió chơi một phát biết bay đàng nào. Nay mẹ ta có lòng lo lắng, ắt cũng từ tình mẫu tử mà ra, thì ta không thể phụ rẫy ơn sâu mà trốn hoài cho đặng!". Nghĩ vậy, bèn nhỏ giọng mà thưa rằng:

- Duyên nợ do tiền định, mà… tiền chưa định, thì dính được hay sao?

Trịnh thị sợ càng nói thì càng sinh nhiều chuyện, nên vội vã đáp:

- Đã đành là duyên phận, nhưng con cũng phải mở lòng ra, thì cái phận cái duyên mới ào xô bay đến!

Thà ngẫm nghĩ một chút, rồi nhỏ giọng nói:

- Từ thơ qua nhạc. Từ văn đến cuộc sống ngoài đời. Chẳng đặng mấy khi người ta hoan hỉ chuyện… mẹ chồng với nàng dâu. Sao mẹ lại mặn mà quá chừng ra như thế?

Trịnh thị đang quyết tâm là vậy, bất chợt nghe tới chữ nàng dâu, bèn thở ra một cái mà nói rằng:

- Dâu lo cho chồng. Mẹ lo cho con. Tóm tắt là mẹ, dâu, đều lo cho con cả. Có điều. Dâu còn trẻ nên lo theo thời hiện đại. Mẹ luống tuổi rồi nên lo đến hậu vận ngày sau, thành thử cứ đụng chạm lia chia là vì duyên cớ đó!

Đoạn, nắm chặt tay lại mà nói rằng:

- Trời có để cho mẹ sống thêm, thì cũng chẳng còn bao lâu nữa - nhưng mà vợ - thông thường nhỏ tuổi hơn, nên theo lẽ tự nhiên thời sẽ sống với con cho hết đời suốt kiếp. Vậy con phải biết nặng nhẹ cân phân, hiểu điều khinh trọng, đặng tới lúc tuổi hạc cao cao, vẫn còn… dâu lo lắng.

Thà! Phải nói từ nào tới giờ chưa mấy hiểu tình mẫu tử, nhưng nay thấu được mười mươi, bèn rúng động tâm can mà bảo dạ rằng: "Chí nhiều không ngứa. Nợ nhiều không lo, nhưng chuyện nợ duyên thì không thể xuội lơ mà coi được. Lại nữa, mẹ ta tuy chưa cưới con dâu về, nhưng từ trong tâm khảm đã nhường nhịn hết ga, thì ta cũng phải theo gương mà hòa nhã với hiền thê vậy.". Đoạn, ngước mắt nhìn mẹ. Tha thiết nói:

- Mẹ yên tâm. Trên đường làm việc thiện con sẽ mở mắt trông xem, để tìm dâu cho sớm!

Nay nói về Vương đại gia, ở Thiểm tây, nổi tiếng chiêu hiền đãi sĩ. Năm ấy, Thiểm Tây bị thiên tai, khiến bá tánh nơi nơi ùn ùn đi cứu trợ, khiến Vương gia tràn trề cảm xúc, nên hạ lệnh cho bọn gia nhân, hễ thấy cứu trợ viên thì phải mời vô cho sớm. Đã vậy còn dặn đi dặn lại rằng:

- Người ta cũng có vợ con ràng buộc. Cha mẹ phải lo, rồi còn đổ sức mà mưu tìm sinh kế. Bận rộn là vậy, mà còn nghĩ đến chuyện tha nhân, thì thiệt không biết phải ngưỡng mộ bao nhiêu mới là đúng nữa - nên các ngươi - lớp thì lo nấu nướng. Lớp chuẩn bị gối mền. Lớp mời chào đón tận ngoài xa, đặng cho ta đáp đền trong muôn một. Có như thế thì lúc bước vào từ đường, hoặc đứng trước bài vị của tổ tiên, mới bình tâm chắc cú.

Lúc ấy, có Hạ quản gia bước ra trước một bước. Vòng tay thưa rằng:

- Hạ nhân có điều chưa rõ. Có thưa được hay chăng?

Vương đại gia đáp:

- Ngươi theo ta từ hồi còn để chỏm. Nay lên tới quản gia, thì chuyện nhà ta việc gì mà ngươi chưa biết?

Hạ quản gia thưa:

- Bà con nội ngoại của chủ nhân đối với thiên tai thì bình yên vô sự, lại còn nhờ lũ lụt mà bán được mạnh hơn, thì chắc chắn sẽ không nhận được quà của người đi làm từ thiện. Vậy tại sao chủ nhân lại tỏ ra hiếu khách với người ta như thế?

Vương đại gia đưa tay vuốt râu mấy cái, rồi chậm rãi đáp:

- Người ta sở dĩ làm được việc thiện là nhờ có tấm lòng, mà một khi có tấm lòng thì cõi dương gian chẳng còn chi quý hơn nữa. Ta mời họ một bữa cơm, cung cấp một chỗ ngủ, cũng chỉ là cách đáp lại phần nào tấm lòng thiện hảo của họ đó thôi. Chớ không phải vì thân tộc của ta hưởng lợi, hoặc bằng hữu mánh dzô, hay lợi dụng họ để tỏ ra mình cũng đầy ắp nhân nghĩa. Cho nên các ngươi khi đón được người ta về, thì phải lấy chân tâm ra mà đối đãi. Chớ đừng ỷ vào gia thế của dòng họ nhà ta, mà làm điều khinh suất, thì trước là bị rầy, sau là bị la, sau nữa công việc ở đây cũng không cần ngươi đến nữa…

Nay nói về A Hỉ, là con gái duy nhất của Vương đại gia, năm ấy lên mười sáu tuổi, có tỳ nữ Thanh Mai luôn theo hầu, lại cho ở chung một chỗ, đã vậy Thanh Mai chẳng những khéo chiều, lại còn có thể sai bằng mắt bảo bằng mi, nên rất được A Hỉ vui lòng thương mến.

Ngày nọ, Thanh Mai bất chợt đi ngang qua nhà bếp, thấy một thanh niên ngồi trên hòn đá đang ăn cháo, nét mặt phương phi, ánh mắt dõi vào cõi xa xăm vô tận, bèn chạy vội tới Hạ quản gia, chỉ vào người ấy. Thảng thốt nói:

- Người thanh niên này tên gì? Ở đâu? Gia cảnh thế nào? Xin đại nhân vào lời cho tiểu nhân biết rõ. Có đặng hay chăng?

Hạ quản gia đáp:

- Được! Được! Người thanh niên này họ Trịnh, tên Bạch Thà, quê ở Thương Lăng, thích làm việc từ thiện. Lấy niềm vui của người làm niềm vui của mình. Lấy nỗi khổ của người làm nỗi khổ của mình, nên luôn được mọi người yêu kính. Còn về gia cảnh thì tôi không được rõ, nhưng nhẫn không có ở tay, thì chắc chắn chữ nợ duyên phải là… chưa ôm dính.

Thanh Mai nghe vậy, mau mắn buông lời cám ơn, rồi chạy về gặp lúc A Hỉ đang ngồi dũa móng tay, bèn gấp gáp nói:

- Ông khách nhà ta là người phi thường. Cầm bằng như tiểu thư không muốn chuyện lương duyên thì thôi, còn muốn chọn thời ông ta là người xứng đáng nhất.

A Hỉ đang ngồi làm đẹp, bất chợt đụng chuyện lương duyên, bèn bối rối nói:

- Chưa gặp mặt. Chưa thấu tình. Chưa hiểu đặng hoàn cảnh của người ta, mà nhào vô ôm đại. Chẳng bậy lắm ư?

Thanh Mai thở phào đáp:

- Cơ hội trước mắt không tận dụng. Lỡ mai này mất mẹ nó đi, thì có hối tiếc cũng không sao mà cứu vãn được. Lại nữa, mình thấy được thì người khác cũng thấy được. Mình muốn dzớt thì người khác cũng muốn dzớt. Xin tiểu thư cẩn trọng cho.

A Hỉ thấy Thanh Mai ca ngợi người thanh niên như vậy, bèn thắc mắc hỏi:

- Ngươi hay theo ta đi thâu hụi, mua sắm, lại còn gặp bọn tá điền để ăn cá nướng cá thui, mà ta chưa hề nghe ngươi ca tụng người nào. Còn người này chẳng những ngươi đã hết lời ca tụng, mà lại còn muốn họ trở thành phu quân của ta, là nghĩa làm sao?

Thanh Mai mơ màng đáp:

- Ngồi trên cục đá mà bình thản ăn cháo, là không đặt nặng chuyện vật chất. Dõi mắt vào cõi mông lung, là đang còn mơ mộng. Một người sống trong xã hội đua chen, thường dựa vô vật chất để làm thước đo sự thành công của một đời người - mà còn biết mơ mộng - thì không nói cũng hiểu được tâm hồn của người ta dạt dào cảm xúc, mà một khi dạt dào cảm xúc, thì tình nghĩa phu thê lúc nào cũng nồng nàn cháy bỏng. Nhất mực ngon cơm. Chớ không lạnh buốt như… trời vô tháng tám!

A Hỉ nghe Thanh Mai thuyết cho một tràng như vậy, bèn hết sức ngạc nhiên, rồi bất chợt nhớ ra việc gì. Hốt hoảng nói:

- Có bị phỏng mới biết lửa nóng. Có sập nhà mới biết sợ phong ba. Có đói rét mới biết thế nào là cơ khổ. Có bị ruồng rẫy bỏ bê mới mần thơ tình hay được. Nay ngươi theo ta hầu hạ bấy lâu, biết được ngươi chưa có chồng, lại chưa có người yêu, cũng chưa hề nhận được thư tình, lại càng không biết thế nào là hò hẹn nơi gốc mít đợi nhau, thì những nhận xét trên làm sao ngươi có?

Thanh Mai thở ra một cái, rồi nhỏ nhẹ đáp:

- Nữ thập tam nam thập lục. Nay nô tỳ đã quá tuổi mười ba. Mần răng không biết?

A Hỉ xua tay đáp:

- Biết là biết vậy, nhưng khổng thể biết được cái gì là nồng nàn cháy bỏng. Cái gì là nhất mực ngon cơm. Cái gì là dạt dào cảm xúc. Vậy ta hỏi ngươi: Do đâu mà ngươi lại quả quyết lẹ làng mau như thế?

Thanh Mai nghe chủ nhân hỏi vậy, liền đưa tay vào túi áo trong, lôi ra một bịch được gói kỹ, đưa cho A Hỉ mà nói rằng:

- Mọi hiểu biết của nô tỳ đều ở đó mà ra. Xin tiểu thư cứ tùy nghi tra cứu.

A Hỉ nóng lòng mở ra, thời thấy cơ man nào là phim bộ, bèn trố mắt nói:

- Thứ này ta tụng hằng đêm, nhưng sao không thấy những điều như ngươi thấy?

Thanh Mai nhỏ giọng đáp:

- Thái thái giỏi nghề pha nước mắm. Tiểu thư đứng xem bao lần, nhưng cũng khó lòng pha được như thái thái. Cũng vậy, trường đời thời rộng, bài học thời nhiều. Chỉ là thu lượm đươc hay không? Chớ thực ra chẳng có gì khó cả…
 

0 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến

Friday, December 19th 2008

10:07 PM

Chuyển kể hành trình Biển Đông 2: Chuyến đi của những em nhỏ

- Ý Thu-

Lời tác giả: Câu chuyện sau đây kể về chị Hồng Ngọc, người từng được xem là Vietnamese Beautiful Lady trong cái nhìn của một số người Mỹ làm việc ở Việt Nam thời chiến tranh. Trước năm 1975, Hồng Ngọc làm việc cho US Navy Headquaters, sau đó chuyển qua làm cho Defense Attache Office gọi tắt là DAO trực thuộc US Embassy. Chị đã có mặt trong chuyến bay Baby Lift Operations vào ngày 06/04/1975. Năm 1954, khi Việt Nam bị chia đôi, gia đình Ngọc đã di cư từ Bắc vào Nam. Mẹ Ngọc khóc sướt mướt giã biệt người em gái ở lại. Trên chiếc máy bay chở những người là người bà thì thầm một mình: "Chị sẽ về thăm em, giờ chị đi đây, không biết tương lai về đâu?" Nhưng rồi cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc bùng nổ và kéo dài. Bà hy vọng được viết những lá thư gởi về cho em ở Thái Nguyên, giờ kể như nghìn trùng xa cách....

*

Tại miền Nam biết bao nhiêu thanh niên lại phải từ giã gia đình dấn thân ra chiến trường bảo vệ quê hương trước làn sóng xâm lăng của cộng sản bắc phương. Mẹ Ngọc một lần nữa lại phải rơi nước mắt, hai đứa con trai của bà gia nhập quân đội.

- Hai đứa bay đi, mẹ lo quá. Lạy trời cho tai qua nạn khỏi.

- Ôi! Mẹ lo gì, chúng con khỏe như trâu, tài ba có thừa, súng đạn còn phải sợ.

- Tụi bây đừng vạ mồm vạ miệng.

Chiến tranh ngày càng khốc liệt vào những năm sau này. Việt Cộng đánh phá, pháo kích, tấn công cả vào Saigon ngay Tết Mậu Thân 1968. Những năm tiếp theo, cả miền Nam triền miên trong khói lửa. Mỹ đổ quân vào Việt Nam càng ngày càng đông. Nhiều cơ quan hành chánh của Mỹ mở cửa ngay tại trung tâm Saigon.

Ngọc đã tốt nghiệp xong bậc trung học. Gia đình đông em, Ngọc quyết định học một nghề cấp tốc để ra đi làm. Cầm tấm bằng thư ký kế toán trong tay, Ngọc đến cơ quan US Navy Headquaters số 2 ở đường Duy Tân, đối diện với Dinh Độc Lập. Ông John vừa nhìn thấy Ngọc là tuyển dụng liền, không cần biết đối tượng ra sao.

Ngọc, với nét đẹp trang nhã, mái tóc đen bồng bềnh chấm qua vai, đôi mắt to long lanh như thu hút lòng người, kèm theo giọng nói rụt rè, bẽn lẽn khiến ông John ngơ ngẩn. Đi đến bất cứ cơ quan nào ông cũng cho Ngọc đi theo. Vì được ưu đãi nên ông gởi Ngọc đi học nhiều nơi để gia tăng tay nghề như kế toán, tốc ký, đặc biệt là lớp Technical Publication.

Sau đó vài năm, Ngọc chuyển qua cơ quan Defense Attache Office trực thuộc tòa đại sứ Hoa Kỳ. Ông Paul đã biết Ngọc từ trước, tay bắt mặt mừng. Ông nói pha vẻ màu mè:

-Chào người đẹp Hồng Ngọc. Ngọn gió lành nào thổi cô về đây? Chúc mừng cô làm việc cho chúng tôi.

Ngọc vừa làm việc văn phòng, vừa phải giao tế tiếp xúc với những nhân vật từ Mỹ đến Việt Nam như bà Leslie, bà Johnson, bà Adams với trọng trách bảo trợ cho các hội từ thiện, đặc biệt là các em mồ côi, các em bị tàn tật.

Những ngày tháng sau cùng của cuộc chiến, tình hình ngày càng thêm khốc liệt. Tin tức thất trận đến dồn dập và lãnh thổ miền Nam ngày càng thu hẹp. Các tỉnh miền Cao nguyên, các tỉnh miền Trung như Huế, Qui Nhơn, Đà Nẵng, Plei Ku, Kom Tum, Nha Trang... đều rơi vào tay CS. Mùa xuân 1975 cái không khí Tết thật buồn tẻ và ảm đạm. Người ta bàn tán xôn xao, đổ xô ra ngoài tìm đường vượt biên, lệnh giới nghiêm được ban hành một cách triệt để. Ông Trung tá Henry mới tới văn phòng để thay thế ông Paul.

-Cô là Ngọc phải không?

-Phải. Hân hạnh được biết ông.

-Chiến dịch di tản bắt đầu. Chúng tôi sẽ rút lui và đóng cửa văn phòng. Nếu cô muốn đi Mỹ cô sẽ đi vào ngày 4/4 với những trẻ em mồ côi.

Ngọc trả lời ngay không suy nghĩ:

-Tôi muốn đi. Vậy gia đình tôi có thể cùng đi không?

-Những trẻ em Việt Nam cần có cô để an ủi chúng. Tôi sắp xếp gia đình cô sẽ đi một chuyến bay khác.

Ông Henry chỉ cho Ngọc những thùng giấy chồng chất lên nhau chật cả gian phòng nhỏ.

-Cô mở ra mà xem trong ấy chứa toàn tiền Việt Cộng. Cô muốn lấy bao nhiêu thì lấy mang về cho người nhà hay những ai còn kẹt lại để xài sau này.

Chưa hết, ông Henry bóc ra một thùng tiền còn mới tinh đủ màu sắc xanh đỏ tím vàng một mặt in hình ông Hồ già. Ngọc lạnh cả người.

-Tình hình không biết thực hư, ai mất ai còn chưa rõ. Tôi sợ lắm, dính vô thứ quỷ này không khéo rũ tù.

Ông Henry phá lên cười, trở giọng khôi hài:

-Cô Ngọc ơi là cô Ngọc. Tiền mà cô còn chê thật vàng không sợ lửa. Tôi đề nghị cô nên đổi tên là Diamond, Golden N, Emerald, Ruby chẳng hạn.

Cả phòng đều quay nhìn Ngọc rồi phá lên cười về lối nói chuyện dí dỏm của ông Henry. Giọng Ngọc trở nên nghiêm trang:

-Vì ông mới đổi về nên ông không biết tên tôi cũng có nghĩa là một loại ngọc mắc tiền và rất quý giá.

Ông Henry ngạc nhiên nhìn Ngọc:

-Thật vậy à, thế mà tôi không rõ. Cô là một cánh hoa tươi sắc, giờ đây vì chiến tranh mà phải bôn ba thật đau lòng.

Đầu tháng 4/75 Ngọc ra đón bà Dorothy, bà Kirk, bà Joan và và Stanford từ cơ quan chính phủ khác sang chơi, đưa các bà đi mua sắm, sắp xếp chỗ ở. Chỉ còn bốn ngày nữa là Ngọc, ba bà ngoại quốc, một số nhân viên và các trẻ em mồ côi sẽ trở về Mỹ. Ngọc thu xếp hành lý, mẹ Ngọc nước mắt chảy giòng giòng:

-Kẻ đi người ở thế này, buồn đến đứt ruột.

-Mẹ yên chí sẽ có người đến đón mẹ.

-Hai em con còn kẹt trong quân đội, lẽ nào mẹ bỏ chúng. Đã không đi thì thôi, đi thì phải đi hết. Mẹ già rồi đâu cần gì.

Ngày 2/4/75 Trung tá Henry đưa cho Ngọc một xấp tài liệu về danh sách những người được đi Mỹ.

-Cô đánh máy dùm tôi tên những người này, đáng lẽ cô đi vào ngày 4/4 nhưng còn nhiều việc cần đến cô, vì thế cô sẽ đi chung với các em mồ côi bị khuyết tật vào ngày 6/4. Sự thay đổi này có làm cho cô phiền lòng không?

-Ông yên chí. Tôi đi chuyến bay nào cũng được.

-Mục đích của chúng tôi mang các em qua Mỹ để các em được giải phẫu khuyết tật và các em có một tương lai sáng lạn hơn. Nhiều gia đình Mỹ sẽ làm thủ tục nhận các em về nuôi. Ở xứ Mỹ chúng tôi, con nuôi cũng được nuôi nấng cẩn thận như con ruột. Các em đang thiếu thốn đủ mọi thứ, nhất là về mặt tinh thần. Tôi hy vọng các em sẽ tìm được niềm vui trong một mái ấm gia đình.

Ngọc cảm động về lời nói của ông Henrỵ

-Tôi hiểu việc làm của các ông. Khi các em lớn lên và trưởng thành trong môi trường mới, các em sẽ cảm nhận việc làm có ý nghĩa này.

Ngày 4/4/75 Ngọc cùng ông Henry đưa tiễn các bà Dorothy, Bà Standford, bà Kirk và nhiều nhân viên chính phủ khác ra phi trường Tân Sơn Nhất lên đường về Mỹ.

Sau khi chuyến bay cất cánh, Ngọc cùng vài đồng nghiệp đang mua hàng trong phi trường, bỗng nghe một tiếng nổ thật lớn. Nhìn từ đằng xa, thật xa, chiếc máy bay bốc cháy, khói đen cuồn cuộn trải dài trên vòm trời. Mọi người trong phi trường hoảng hốt tìm cách tháo chạy. Về đến văn phòng tin cho biết một số nhân viên chính phủ cộng thêm 300 trẻ em mồ côi mang về Mỹ nay đã thành tro bụi.

Ngọc hỏi ông Henry:

-Tôi lấy làm thắc mắc tại sao máy bay bị rớt? Có phải Việt Cộng gài bom không?

-Hiện tại tình hình rất phức tạp, chúng tôi lo di tản, khó có thể kết luận được trong lúc này, có thể là do tai nạn ngẫu nhiên mà thôi. Tuy nhiên, toàn bộ chuyến máy bay không phải là chết hết, cũng còn một số người sống sót. Tôi sẽ hỏi thăm xem nhân viên của văn phòng ta, ai còn ai mất.

Ngay 5/4/75 Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã cử người làm lễ tưởng niệm chuyến bay C5A bị rớt. Hồng Ngọc thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nghẹn ngào nói với ông Henry:

-Nếu ông không đổi lịch trình bay, tôi đã chết mất xác rồi. Thật tôi không thể đoán được sự việc xảy đến trong tương lai! Nhưng dù sao cái chết của họ không phải là điều đáng tiếc, họ đã hy sinh và làm việc vì nhân loại. Chúng ta đều tưởng nhớ họ, thương tiếc những trẻ em mồ côi có mặt trong chuyến bay.

-Ngày mai cô sẽ lên đường. Tôi khuyên cô không nên về nhà thăm gia đình trong lúc này, vì vụ máy bay vừa nổ không rõ nguyên nhân gì, có khi cô về thăm gia đình rồi kẹt lại hối hận thì cũng đã muộn.

Nghe ông nói Ngọc buồn thấm thía rơi nước mắt, trái tim đau nhói vì biết chắc mình sẽ xa gia đình, xa quê hương thật sự, mong rằng chuyến bay của mình bình an vô sự. Ngày 6/4/1975 Ngọc rời Việt Nam, bắt đầu cuộc hành trình từ phi trường Tân Sơn Nhất đến Clark Air Force Base ở Philippines. Sau hai ngày nghỉ ngơi Ngọc đổi qua một chuyến bay khác và nhập chung với đoàn người chuyển tiếp trên đường về nước Mỹ. Có khoảng trên 200 em mồ côi Việt Nam đứa nhỏ nhất là 3 tháng. Ngọc quan sát từng em, có đứa sứt môi, đứa mắt lồi, đứa chân khập khiễng.... có lẽ vì thế mà cha mẹ đã bỏ chúng vào cô nhi viện chăng! Ban đầu chỉ có vài đứa khóc, rồi đứa này bắt chước đứa kia, khóc um cả lên.

-Này đừng khóc! Chị là Hồng Ngọc, chị có mặt trên chuyến bay này để giúp đỡ các em.

Một đứa ngồi gần Ngọc lên tiếng:

-Em nhớ mẹ lắm! Mẹ không thương em, mẹ chỉ thương em bé thôi.

-Mẹ nào cũng thương con. Chắc vì lý do nào đó mà mẹ em phải gởi em vào cô nhi viện.

-Nhưng em không muốn xa mẹ.

Ngọc trấn an con bé:

-Khi nào tới Mỹ, em ráng nghe lời cha mẹ mới, học giỏi, lớn lên em sẽ về tìm mẹ lo gì, chị sợ lúc đó em quên mất người mẹ nghèo khó của em ở Việt Nam.

Ngọc nói thêm, không hiểu con bé có hiểu hết ý của Ngọc không:

-Chị và em là những kẻ xa quê hương, nay phải ăn nhờ ở đậu ở xứ người, thật buồn em nhỉ! Ai cũng đều mất mát một mái gia đình, bây giờ lại mất thêm một tổ quốc. Ờ tại sao em lại vào viện mồ côi? Em tên gì?

-Em tên Trang, 11 tuổi. Ba mẹ em ly dị bỏ em vào trong Cô nhi viện. Thỉnh thoảng họ đến thăm em. Lần nào mẹ về, em đều khóc.

Chuyến bay đáp xuống Hawaii, con bé vẫn bám chặt lấy Ngọc, tiếng trẻ con khóc nức nở, đứa này vừa nín thì tiếng khóc khác lại cất lên. Nhiều ông bà người Mỹ thay phiên nhau dỗ dành chúng. Ngọc ôm đứa bé 5 tháng trên tay, đầy mùi sữa thơm, nó chẳng biết gì ngoài việc đến giờ cần phải ăn, nó há hốc miệng, kêu "oeo oeo" nhiều tiếng nghe thật đáng thương. Ngọc động lòng trắc ẩn, cảm thương cho những trẻ thơ lạc loài, bị bỏ rơi ở một nơi nghèo khó thiếu tình thương của cha mẹ.

Nay những đứa trẻ này lại được một nơi khác từ bên kia bờ đại dương, cách xa hàng ngàn dặm, giơ bàn tay nhân ái, nhặt chúng từ các viện mồ côi, mang chúng về nước Mỹ nuôi nấng. Ngọc hôn phớt nhẹ lên má đứa bé thì thầm: "Rồi em sẽ có cha có mẹ".

Rời Hawaii, chuyến bay cất cánh đến Travis Air Force Base ở San Francisco thuộc tiểu bang California. Ngày 10/4/75 bà Bonbet ra đón Ngọc.

Làm thủ tục giấy tờ xong. Ngọc từ giã các em.

-Quả đất tròn, chị em chúng ta sẽ có ngày gặp lại.

Con bé níu tay Ngọc òa lên khóc:

-Chị bỏ em sao? Em không có mẹ, bây giờ lại mất chị!

Hai chị em ôm lấy nhau mà khóc.

Ngày 18/4/75 Ngọc trình diện ở Naval Shipyard thuộc Long Beach, vì đường xa không thuận tiện, Ngọc chuyển về Naval Weapon Station ở Seal Beach.

Nơi đây mọi người đều đổ dồn về nhìn Ngọc khi biết Ngọc là người Việt Nam đầu tiên làm ở đây. Ông Davis tự giới thiệu mình là người mọi da đỏ chính gốc. Trên đầu ông cắm đầy lông gà đủ màu sắc sặc sỡ. Ông nói giọng hân hoan:

-Cô thật là vinh dự khi gặp được người Mỹ bản xứ (you're honor to meet first American). Nhân viên chúng tôi làm việc trong sự cộng đồng, hợp tác chặt chẽ. Tuy vậy để tránh sự kỳ thị cô nên theo học một lớp làm thế nào phân biệt được sự đối xử khác nhau giữa người này và người kia. Lớp học kéo dài 2 tuần. Sau khi học có chứng chỉ. Cô còn điều gì hỏi không?

-Những điều ông nói hoàn toàn mới mẻ đối với tôi, vậy làm thế nào để phân biệt được sự kỳ thị.

-Tôi cho một thí dụ về sự kỳ thị. Như chị Linda thấy tôi chào hỏi nhưng khi nhìn thấy cô Ngọc thì quay phắt người đi. Một thí dụ khác như chị Linda giao việc cho người khác thì ít mà giao công việc làm cho cô thì nhiều. Cô mới tới cần phải học hỏi nhiều lắm.

Sau lớp học 2 tuần, Ngọc bắt tay vào làm việc. Thời tổng thống Ford, cơ quan chỗ Ngọc không có việc làm nhiều. Vì thế mọi người có thể tự xin thôi việc tức là reduction in force hay gọi tắt là RIF, layoff. Ai đời chỉ có một công việc mà phải chia năm xẻ bảy người cùng làm. Ngọc đi ra đi vô cho đủ 8 tiếng rồi về.

Tin tức về Việt Nam được các đài truyền thanh, truyền hình, báo chí phổ biến khắp nơi. Người Mỹ rút hết về nước. Cộng sản thừa cơ đánh phá, pháo kích vào Saigon.

Ngày 30/4/75, ngày đau buồn của miền Nam Việt Nam, nhìn trên truyền hình, cảnh chiến xa Việt Cộng tiến vào dinh Độc Lập, Ngọc khóc hết nước mắt, cáo bịnh không thể đến chỗ làm. Trong lúc đau buồn, bà Bonnet là người an ủi Ngọc nhiều nhất. Bà thường dắt Ngọc đến trại Pendleton tìm người thân.

-Không có lý do gì gia đình chị lại không đi, vì tôi nghe ông Henry cho người về đón mà!

-Có lẽ bà mẹ tôi đổi ý, chỉ cần thiếu một người con là bà không đi đâu.

*

Câu chuyện kể trên đã xảy ra cách đây gần 29 năm. Để viết lại chuyện này, mới đây Ngọc đã gọi điện thoại cho bà Adams, hiện đang sống tại San Diego. Nhận ra Ngọc bà mừng rỡ:

-Sao! Ngọc đấy à! Có dịp nào xuống chơi với tôi, tuổi già tới nơi, thật ngán ngẩm, nghĩ lại thời ở Saigon, vui biết mấy.

-Tôi chuẩn bị viết hồi ký, không hiểu bà còn nhớ gì về chuyến máy bay bị rớt vào tháng 4/75 ở Việt Nam không?

-Tôi nhớ chứ, nhớ thật rõ như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua bởi vì văn phòng chúng ta mất rất nhiều người trong chuyến đi đó. Chị viết đi, vì đó là một kỷ niệm đau buồn nhưng rất quý giá.

Hàn huyên với bà Adams một lúc rồi nàng chào tạm biệt bà.

Ngọc nhìn qua cửa sổ, ngoài trời âm u, cảnh tượng buồn thê lương giống như ngày tai nạn xảy ra cho chuyến bay định mệnh. Nàng thở dài nhớ đến những người bạn đã mất, nhớ Joan và Barbara.

Ngọc đi ra vườn sau nhìn trời mông lung, thấy cuộc đời thật vô thường, hôm nay còn đây ngày mai đi mất.
 

1 Ý Kiến / Đóng Góp Ý Kiến