
Những câu truyện hay và Vườn Thơ
do Thùy Dzung Phụ Trách
-LS Lê Đình Hồ-
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]
Hỏi (Ông Trần V.T): Cách đây chừng 8 tháng con tôi đã báo cho vợ chồng chúng tôi biết là vì công việc làm nên cháu muốn mướn một căn nhà gần hãng. Trong thời gian cháu mướn nhà, cháu chẳng hề thay đổi địa chỉ. Có điều là thỉnh thoảng cháu chỉ về thăm nhà vào những ngày cuối tuần.
Cách đây gần 3 tuần lễ, cảnh sát đã đến và lục xét nhà của chúng tôi. Sau khi lục xét nhà của chúng tôi cảnh sát vẫn không thấy có gì đáng khả nghi nên họ chẳng lưu giữ hoặc tịch thu bất cứ vật gì cả.
Sau đó họ cho biết là cháu đã bị bắt về tội trồng cần sa với số lượng thương mãi. Cháu đã ra tòa một lần và vẫn không chịu nhận tội. Cháu có xin tại ngoại, nhưng tòa đã từ chối. Hiện cháu đang bị giam giữ chờ ngày xét xử.
Cháu mới đến Úc được gần 3 năm và chưa hề có bất cứ vấn đề gì rắc rối liên quan đến pháp luật.
Xin LS cho biết là trong trường hợp của cháu nếu bị tòa kết tội thì hình phạt sẽ như thế nào?
*
Trả lời: Điều 23(1)(a) “Đạo Luật về việc Lạm Dụng và Buôn Bán Ma Túy” (Drug Misuse and Trafficking Act 1985) quy định rằng: “Người trồng, hoặc cố ý tham dự vào việc trồng loại cây bị nghiêm cấm sẽ bị tội về sự vi phạm này” (A person who cultivates, or knowingly takes part in the cultivation of, a prohibited plant is guilty of an offence).
Điều 33(2)(b) quy định rằng: “
khi sự vi phạm liên hệ đến cây cần sa, hoặc lá cần sa, [sẽ bị] phạt 3,500 đơn vị tiền phạt [tương đương $385,000] hoặc ở tù 15 năm hoặc cả hai”(
where the offence relates to cannabis plant or cannabis leaf, a fine of 3,500 penalty units or imprisonment for 15 years, or both).
Trong vụ Gattellari v Regina [2007] NSWCCA, “Vào ngày 14.2.2005 cảnh sát thi hành án lệnh lục xét một căn nhà biệt lập tọa lạc tại vùng Binnaway thuộc miền tây của NSW. Bị cáo cùng 2 người đàn ông khác đã bị bắt tại căn nhà này. Joseph Gattellari, thân phụ của bị cáo, đã bị bắt tại một nơi khác trong cùng cuộc bố ráp đó” (On 14.2.2005 the police executed a search warrant upon an isolated property located at Binnaway in the western part of NSW. The accused, together with two other men were arrested at the premises. Joseph Gattellari, the father of the accused Michael Gattellari, was arrested at another location in a simultaneous raid).
“Tài sản này đã bị cảnh sát ngấm ngầm theo dõi từ ngày 29.11.2004. Trong suốt thời gian thực hiện cuộc điều tra và theo dõi, cảnh sát đã vào căn nhà này 14 lần. Mỗi lần vào, cảnh sát đã thu đạt bằng chứng qua việc chụp hình, và quây video về việc trồng cần sa cùng sự tăng triển của các cây cần sa” (The property had been the subject of a covert police surveillance operation since 29.11.2004. During the course of investigation, police entered the property on 14 occasions. whilst there, they obtained video and photographic evidence of the cultivation as it progressed).
Các nhân viên điều tra đã phát hiện gieo giống cần sa được thực hiện trong một căn lều lợp tôn rộng 20 mét và dài 80 mét. Cần sa được trồng phía ngoài trong một khu vực rộng gần bằng sân bóng đá. Tất cả các cây cần sa tại khu vực này có chiều cao từ 20cm cho tới 1.5 mét. Cần sa đã được trồng trong vùng có cây cối khá rậm rạp, được rào khoanh vùng bằng lưới kẽm. Đồng thời được tưới bởi 2 bồn chứa nước lớn, cùng hệ thống dẫn nước gồm các ống dẫn nước chạy xuyên qua khu vực trồng cần sa.
“Trong suốt thời gian cảnh sát điều tra và theo dõi, hơn 8 lần cảnh sát theo dõi bị cáo can dự vào các công việc khác biệt nhau của việc trồng cần sa” (During the course of the investigation, police observed the accused engaged in various aspect of the cultivation of the plants on no fewer than 8 occasions).
Khi thì cảnh sát thấy bị cáo đang chăm bón cho các cây cần sa, khi thì thấy bị cáo đang tưới nước cho các cây cần sa, khi thì thấy bị cáo chuyển các cây cần sa nhỏ từ trong lều gieo giống ra khu vực trồng cần sa cách lều chừng 700m.
Cảnh sát thâu âm các cú điện thoại giữa bị cáo và thân phụ, cho thấy rằng họ tường trình cho nhau về tình trạng của cần sa. Trị giá thị trường của lượng cần sa này được tính khoảng chừng $5.5 triệu.
Cảnh sát đã cáo buộc bị cáo về tội “trồng cần sa với số lượng thương mãi lớn” (cultivating not less than the large commercial quantity of cannabis plants). Tổng cộng gồm 2,742 cây cần sa được trồng. Các nhà lập pháp quy định rằng trồng 1,000 cây là phạm tội “trồng cần sa với số lượng thương mãi lớn” (cultivating a large commercial quantity of cannabis plants).
Mặc dầu sau khi bị bắt bị cáo đã từ chối trả lời sự chất vấn của cảnh sát, tuy nhiên bị cáo đã đưa ra chứng cớ trong tiến trình xét xử. Bằng chứng mà bị cáo đưa ra cho thấy rằng một người khác có tên là Anthony Taylor chịu trách nhiệm về việc thiết lập khu vực trồng cần sa này và bị cáo chỉ được ông ta yêu cầu làm việc. Tuy nhiên, Anthony Taylor đã bị gãy chân trước khi cảnh sát bắt đầu thực hiện việc theo dõi, và chính vì bị gãy chân mà đương sự sau đó không bao giờ trở lại nơi trồng cần sa nữa.
Tuy nhiên, vị thẩm phán tọa xử cho rằng bị cáo giữ vai trò quan trọng trong việc trồng cần sa này, khi ông tuyên bố rằng:
“Bằng chứng cho thấy rằng từ lúc Taylor bị thương thì bị cáo tiếp tục sắp xếp cho việc trồng cần sa này. . .
“Không có bằng chứng nào về việc bị cáo sẽ làm gì khi cần sa đến độ thâu gặt, mặc dầu tòa không thể kết luận rằng liệu Taylor có trở lại để thâu hoạch hay không. . .
Cuối cùng vị thẩm phán tọa xử kết luận rằng bị cáo là người chủ chốt trong việc tổ chức trồng cần sa này, vì bị cáo vẫn tiếp tục điều hành việc trồng cần sa 3 tháng sau ngày Anthony Taylor bị gãy chân và rời khỏi nơi trồng cần sa này.
Vào lúc bị bắt, bị cáo được 20 tuổi, là con lớn nhất trong gia đình gồm 3 người con. Mặc dầu bị cáo bị thất nghiệp vào lúc bị bắt, tuy nhiên, trước đó bị cáo cũng có công ăn việc làm đàng hoàng, và người chủ cũ cũng xem trọng bị cáo. Bị cáo chưa hề có tiền án và được vị thẩm phán tọa xử xem là người có tánh hạnh tốt. Bị cáo được giảm 25% của bản án vì chịu nhận tội. Tòa đã xử bị cáo 5 năm 9 tháng và buộc bị cáo phải thụ hình tối thiểu là 3 năm 2 tháng.
Bị cáo bèn kháng án vì cho rằng bản án quá nặng. Tuy nhiên Tòa Kháng Án Hình Sự đã quyết định giữ y án của tòa án trung thẩm.
Dựa vào luật pháp và phán quyết vừa trưng dẫn ông có thể thấy được rằng tội trạng mà cháu vi phạm là một tội trạng hình sự nghiêm trọng vì hình phạt tối đa dành cho sự vi phạm này là 15 năm tù.
Điều chắc chắn là khi cháu bị kết buộc tội trạng này thì cháu sẽ bị tòa buộc phải thụ hình một thời gian ở trong tù.
Tuy nhiên, việc cháu bị tuyên phạt nặng hay nhẹ, thời gian thụ hình dài hay ngắn điều đó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác chẳng hạn như tiền án, tình trạng sức khỏe, công ăn việc làm, tình trạng gia đình, gia cảnh và tình huống mà trong đó tội trạng đã xảy ra.
Nếu ông còn thắc mắc xin gọi điện thọai cho chúng tôi để được giải đáp.
"Toác! Toác!" - "Chíu! Chíu!" đạn địch đuổi theo. Tôi cắm đầu chạy. Chạy được một đỗi thì tôi đuối sức, lảo đảo. Trâm bèn ghé vai, vác tôi lên lưng. Trâm khỏe như một đô vật. Trâm cõng tôi, nhanh chân lẩn vào rặng dừa bên trái lộ. Hết vạt dừa, Trâm đặt tôi xuống đất. Chúng tôi lội trên mảnh ruộng vừa gặt xong. Chân tôi vướng gốc rạ. Tôi ngã bổ nhào trên mặt ruộng. Trên mặt ruộng có những đồ chơi của trẻ con vương vãi đó đây. Một con búp bê bằng nhựa, một cái xe hơi bằng nhựa, những chén bát nhỏ tí, cũng bằng nhựa, màu mè xanh đỏ. Tôi chợt nhớ tới gia đình vợ con tôi ngoài Ban Mê Thuột. Chắc vợ con tôi đã chết hết. Tôi nghĩ tới đất nước tôi. Đất nước tôi đã mất. Đơn vị tôi đã tan tác. Một phút bất thần, phẫn uất, tôi rú lên như con thú:
- "Ôi!... Ôi!... Ông Trời ơi!... Ông Trời ơi! ...ơi... ơi..."
Tôi rút khẩu súng Colt ra, kê nòng súng vào mang tai mình, bóp cò. Bàn tay như sắt nguội của Trung úy Trâm phạt ngang một cú Karaté. Viên đạn bay lên trời. Khẩu Colt văng trên mặt ruộng.
- "Trâm ơi! Làm ơn! ... Cho anh chết! Trâm ơi!..." Nước mắt dàn dụa, tôi thất vọng, van lơn. Chẳng nói chẳng rằng, Trung úy Trâm lầm lì, xốc vai tôi bước đi. Ngoài lộ vẫn còn lác đác tiếng đạn bắn qua, bắn lại và tiếng lựu đạn nổ. Trâm lột sợi dây ba chạc của tôi, của anh, mũ sắt của tôi, của anh, vứt trên một gò mả. Trâm từng bước dìu tôi về hướng xóm làng gần đó. Giờ đó tôi như con sên yếu đuối, mặc cho chú Trâm tha lôi đi đâu thì đi. Chúng tôi vừa đụng đầu một con lộ đất thì một nông dân đạp xe tới chặn đường,
- "Ông thiếu tá bị thương hả?"
Thói quen, ngược đời, đi trận tôi thường đeo lon trắng. Về nhà tôi lại đeo lon đen. Người dân đã nhìn thấy cặp lon trắng của tôi. Ông cụ có vẻ động lòng,
- "Ông trung úy lấy xe này đưa thiếu tá chạy đi! Luẩn quẩn ở đây lâu không tốt đâu!"
-"Cám ơn cụ!" Trâm lanh tay nhận chiếc xe đạp thồ từ tay người dân tốt bụng.
Con lộ đất dẫn tới một văn phòng Hội Đồng Xã, cửa đóng, khóa ngoài. Rồi con lộ đất dẫn vào một ngôi nhà thờ xứ đạo. Trong sân nhà thờ, lố nhố nhiều người đang tập trung. Một cái rờ-moọc xe GMC chất đầy súng ống nằm ngay giữa sân. Đó đây, từng đống quân trang, quân phục VNCH vừa bị cởi bỏ. Trâm dựng cái xe đạp ngay giữa sân. Chú đứng quan sát một phút, rồi thở dài,
- "Cởi quân phục vứt đi thì chỉ còn cái áo mayor với cái quần xà-lỏn. Mình làm sao đây, Thái Sơn?"
Tôi rờ rẫm những khẩu M16 trên chiếc rờ-moọc, "Lên đạn. Dựng khẩu súng thẳng đứng. Đưa nòng súng vào dưới cằm. Lách ngón chân vào cò súng. Nhấn ngón chân xuống. Thế là xong!" Tôi đang suy nghĩ, sắp thử một cú tự giải thoát nữa, thì chú Trâm van lơn,
- "Thày ơi! Thôi đi thày ơi! Đừng bỏ em, thày ơi! "
Trung úy Trâm ôm chặt vai tôi, khóc nức nở như một đứa bé. Thày trò tôi ôm nhau. "Hu ... hu... hu...." Những người đứng gần đó, bị nỗi đau đớn chung lôi cuốn, cũng ôm mặt khóc theo. Như giữa đám ma, cả một khu sân nhà thờ xứ đạo vang lên tiếng khóc. Một đám ma không có người chết, mà những người đang đứng đây, chẳng có họ hàng gì với nhau, nhìn nhau, ôm nhau, cầm tay nhau, chúng tôi khóc vùi.
Một thanh niên cưỡi chiếc Honda 90 từ hướng quốc lộ 1 phóng tới. Anh kè sát bên tôi, nói nhỏ :
- "Thiếu tá lên xe, em chở đi trốn."
Trâm đẩy tôi lên yên sau xe, chú leo lên theo.
- "Chúng nó (VC) chết nhiều lắm! Chúng nó bắt được mấy anh lính bị thương, tra khảo họ xem cấp chỉ huy của họ là ai, đâu rồi? Họ khai có ông thiếu tá, chắc chết rồi. Chúng kiểm xác chết. Không có xác thiếu tá. Chúng đang túa đi lùng. Em sẽ đưa thiếu tá đi giấu. Không để cho chúng nó bắt."
Xe chạy trong đường làng quanh co một đỗi thì ngừng. Anh thanh niên dựng xe, đập cửa một căn nhà gỗ, mái dừa,
- "Mẹ ơi! Con đây! Hải đây! Mẹ mở cửa cho con!"
Cánh cửa hé mở, một bà già, tiếng Bắc Di Cư:
- "Đánh nhau, súng nổ ầm ầm mà mày cứ nhơn nhơn ra đường. Về nhà đóng cửa lại cho tao đỡ lo!"
- "Vâng con về ngay. Mẹ cho con gửi hai anh này. Có ai hỏi, mẹ cứ nhận là hai con của mẹ. Anh Cả, anh Hai đi lính vắng nhà lâu rồi, chòm xóm không nhớ mặt đâu! Mẹ làm ơn, làm phúc. Con đi một chút nữa con về ngay. Mẹ đừng lo!"
Bà mẹ nhìn tôi và Trâm, bà biết ngay hai đứa chúng tôi là sĩ quan QLVNCH đang bị truy đuổi. Bà cụ không dài dòng hỏi han. Cụ đưa tay chỉ cho tôi cái tủ đứng góc nhà,
- "Hai đứa lấy quần áo 'si-vin' của thằng Hải mà mặc vào ngay đi! Đưa quần áo nhà binh cho tao đi giấu!"
Thoáng chốc, tôi và Trâm thành hai anh dân sự. Bà cụ Bắc Kỳ đã chôn hai bộ rằn ri dưới bùn ruộng muống sau nhà.
Trước sân, anh thanh niên (Hải) con bà cụ đang bơm lốp xe. Tôi và Trâm ngồi uống nước vối nóng, nghe ngóng động tĩnh. Chợt, ngoài đường có tiếng đối đáp,
- "Anh kia! Anh có thấy hai thằng lính rằn ri Ngụy chạy qua đây không?" một giọng Nghệ-Tĩnh gặng hỏi.
- "Có! Chúng nó chạy thẳng sang hướng Thủ-Đức. Đấy! Con đường quẹo phải! Chổ cây dừa nghiêng..."
Tên Việt-Cộng chỉ huy liếc mắt vào trong nhà. Thấy tôi và Trâm, nó hỏi trống không,
- "Chứ hai anh kia làm chi rứa?"
- "Anh Cả và anh Hai của tôi đó!" Hải nhanh miệng.
- "Thưa ông, hai thằng con tôi đi lính ngoài miền Trung. Tụi nó mới đào ngũ về nhà được mấy tuần. Xóm này ai cũng biết." Bà cụ phân trần.
Thằng Việt-Cộng hết nghi, quay sang đồng bọn, nó ra lệnh,
- "Nhanh lên! Đuổi theo chúng nó nhanh lên! Hướng cây dừa nghiêng. Đừng cho chúng nó chạy thoát! Các đồng chí cẩn thận đấy! Tụi nó có súng!"
Rồi tiếng chân người huỳnh huỵch chạy đi, xa dần. Bà già lấy khoai lang luộc đưa cho chúng tôi ăn đỡ lòng. Anh Hải rồ máy xe. Nửa giờ sau anh trở về,
- "Thiếu tá đi được rồi! Quân của chúng nó đi hết rồi."
- "Hai con có còn tiền để đi xe về quê không? Nếu không mẹ cho!" bà cụ ân cần.
- "Cám ơn bác. Chúng cháu còn tiền đây. Chúng cháu mới lãnh lương. Mải lo đánh nhau, chưa tiêu đồng nào." Tôi cảm động nói không nên lời. Bà già nhìn chúng tôi, ánh mắt bà chứa ẩn một tấm tình thương xót bao la.
- "Thưa Mẹ! Con đi!"
- "Thưa Mẹ! Con đi!"
- "Anh đi nhé, Hải! Cám ơn Mẹ và em vô cùng!"
Lần đầu tôi gọi một người không sinh ra tôi là Mẹ. Tôi gọi bà là Mẹ, không ngại ngùng, như thể bà đã là Mẹ tôi, đã sinh ra tôi. Tôi và chú Trâm bước ra vườn sau, theo bờ ruộng rau muống, leo lên con lộ đá đi về hướng Thủ-Đức. Tôi biết sau lưng tôi, Mẹ và chú Hải còn trông theo.
Hai đứa tôi nhanh chân nhập vào dòng người hướng về Thủ-Đức. Chợt sau lưng tôi có tiếng gọi, "Thái Sơn ơi! Trâm ơi!" Thì ra người gọi chúng tôi là Thiếu úy Trần văn Thủy . Ba thày trò tôi không dám lớn tiếng hỏi han nhau về những gì đã trải qua. Chúng tôi đi như những người dân chạy loạn đang tìm đường về nhà, sau khi im tiếng súng. Chúng tôi vào Thủ-Đức. Nhà nhà, cửa đóng kín mít. Vài chiếc xe Cảnh-Sát cháy dở dang. Vài tiệm buôn bị đốt phá. Trong phố đã xảy ra cướp bóc, hôi của. Cổng Trung-Tâm Cải-Huấn Thủ-Đức mở toang. Sân nhà lao vắng tanh. Tội phạm mới ra khỏi khám đang lộng hành (?) Nhiều người tay mang băng đỏ chở nhau trên Honda, trên xe Ford Cảnh-Sát. Xe chạy nhanh như bay, qua lại nhiều lần trên đường phố. Tới chợ Thủ-Đức, chúng tôi may mắn đón được chiếc xe Lamb chạy đường Thủ-Đức, Thị-Nghè, giá sáu trăm đồng một người. Chiếc xe Lamb bò ì ạch vì quá tải. Xe chúng tôi qua mặt từng đoàn người bận quần đùi, áo thun, chân đất, đang chen vai nhau, đi về hướng thủ đô. Tôi nhận ra, trong đoàn người áo thun, quần xà lỏn đang đi dưới đường, có Thiếu tá Nguyễn hữu Tài, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân. Có lẽ anh cởi bỏ quân phục nơi Đường-Sơn Quán. (?)
Còn cách ngã ba xa lộ Đại-Hàn chừng hơn trăm mét, chúng tôi phải xuống xe đi bộ vòng qua một khu ao cá và ruộng nước bên trái quốc lộ, vì giữa đường có một chiếc tank T54 đang cháy. Có vài cán binh Cộng-Sản Bắc-Việt ôm AK chặn không cho bộ hành và xe cộ qua lại đoạn đường này. Lội hết vạt ruộng thì thày trò tôi tới xa lộ Đại-Hàn. Lúc này, trên xa lộ, tank T54 và xe chuyển quân của CSBV đang nối đuôi nhau hướng về Sài-Gòn. Sau khi cuốc bộ một đỗi, chúng tôi tới cây cầu đúc. Qua cầu, chúng tôi lẫn trong biển người xuôi ngược.
Chúng tôi về tới Thị-Nghè thì mặt trời xế bóng. Giữa cầu Thị-Nghè là một chiếc M41 đứt xích vì B40. Chiếc chiến xa nằm bẹp, bụng xe đè sát mặt cầu. Trên pháo tháp, có vết máu đã khô, nhưng không thấy xác người chết. Bên cạnh đó, vương vãi vài bộ quân phục Việt Nam Cộng Hòa, dây đạn, nón sắt, ba lô...
Tôi không dám về nhà mẹ tôi, sợ trong lúc tình hình lộn xộn, chòm xóm biết mình là sĩ quan QLVNCH, sinh chuyện không hay. Để hai người đàn em chờ trên cầu, tôi đi kiếm nhà người quen, xin cho chúng tôi tá túc. Nhà anh bạn Nguyễn gia Hân của tôi nằm ngay chân cầu. Bạn tôi là sĩ quan Cảnh-Sát, Trưởng đoàn phòng vệ Toà Đại-Sứ Hoa-Kỳ. Nhà khóa cửa. Có lẽ gia đình bạn tôi đã di tản rồi. Tôi trở lại cùng Trâm và Thủy. Qua cầu, chúng tôi tiếp tục đi. Bây giờ, trong phố, người qua lại nườm nượp. Bên lề đường, sát tường rào Sở Thú, những người đi hôi của đang bày bán đủ thứ, chăn màn, quần áo, chén bát, sách truyện, tranh ảnh, rượu bia...
Quên đời? Chỉ còn cách uống rượu. Năm trăm đồng một chai Hennessy. Ba thày trò tôi kẹp nách mỗi người một chai. Tôi vẫy tay chận một chiếc xích lô máy để vào Chợ-Lớn, về nhà Trung úy Trần văn Phước; vừa có nơi lạ để nghỉ qua đêm; xóm giềng không biết mình là ai; vừa tìm xem chú Phước còn hay mất. Chiều rồi, nhưng nhà chú Phước còn mở cửa. Trước nhà là cái bảng hiệu "Chiêm-Tinh Gia Trần-Cẩm, Chuyên Bói Bài, Coi Chỉ Tay, Đoán Vận-Mệnh". Bác Cẩm là thân sinh của chú Phước. Xe ngừng, tôi vừa bước xuống đất thì Phước từ trong nhà ào ra ôm chầm lấy tôi, "Ôi! Anh Hai! Anh Hai! Mừng quá! Anh Hai ơi!"
Thì ra trong cuộc lui binh dưới mưa pháo ngày 29 tháng Tư, Phước bị tụt lại đàng sau, mất liên lạc với tiểu đoàn. Phước không biết chúng tôi rẽ vào Long-Bình nên Phước đã đi thẳng một lèo, theo xa lộ về tới Sài-Gòn.
Đêm 30 tháng Tư bốn anh em tôi ngồi bên nhau, cạn ba chai rượu. Chú Thủy cho tôi biết rằng, ngay đợt tấn kích đầu của địch, chiếc xe thứ nhì đã bị thương và chết khá nhiều. Nhiều BĐQ bị thương đã được dân chúng di tản đi cứu cấp. Thiếu úy Thủy đã cố gắng mở một mũi bọc hông phải để giải tỏa áp lực địch nhưng không thành công, vì địch quá đông. Đến lúc khẩu phòng không 12,7 ly của địch tham chiến thì Thủy cho anh em phân tán chạy vào nhà dân. Sau đó Thủy được dân chúng cưu mang, cho quần áo cải trang rút chạy. Chú Thủy nói, hình như chú Thiều bị thương ngay từ phút đầu, không rõ số mệnh ra sao . Sáng Mồng Một tháng Năm 1975, tôi cho Thủy và Trâm một số tiền để làm lộ phí về quê. Từ dạo ấy, anh em chúng tôi không còn dịp gặp lại nhau nữa.
*
Thời gian trôi... mười ba năm sau, cũng vào ngày Ba Mươi tháng Tư, đầu làng, cuối xóm, rợp bóng cờ đỏ sao vàng. Nơi nơi, loa vang vang, bài ca "Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh". Có một anh Bắc-Kỳ, tuổi lửng lơ, nửa già, nửa trẻ, đạp xe thồ, đèo theo một cái giỏ, đi rao bán cá khô trong khu ngoại ô Thủ-Đức. Tới căn nhà gỗ, mái dừa, anh bán cá khô vừa cất tiếng hỏi thăm, một bà Xứ Quảng đã mau mắn trả lời:
- "Đi rồi! Bán nhà, vượt biên. Năm, sáu năm rồi!"
- "Xin cám ơn bà. Xin cám ơn Trời!" Anh Bắc-Kỳ mừng rỡ. Bà chủ nhà . . . nghệt mặt, giương mắt nhìn anh chăm chăm, mà chẳng hiểu ý anh.
Anh bán cá khô lên xe, đạp từ từ theo con lộ đất. Xe tới cổng nhà thờ. Gác chuông lặng câm. Sân nhà thờ vắng ngắt. Trên thánh giá, Chúa cúi đầu. Không biết Chúa có còn nhận ra anh không? Qua văn phòng Ủy-Ban Nhân-Dân Xã, đến quốc lộ 1, anh quẹo phải, ngừng lại bên đường ngồi nghỉ. Nơi đây chỉ cách Đường-Sơn Quán vài cây số. Cũng ngày này, mười ba năm trước, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đã tả xung hữu đột trong trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng. Những người nằm xuống đã sang thế giới bên kia trong quân phục rằn ri, với cái huy hiệu đầu beo, phía trên phù hiệu đó là một bệt tím có chữ số "82" màu vàng. Trưa nay, có lẽ dân chúng trong vùng còn nhớ tới họ, nên cắm vội bên đường đôi bó nhang, hương khói.
Anh bán cá khô ngồi xẹp trên lề cỏ, rưng rưng:
- "Các chú tha lỗi cho anh..."
Hai bên quốc lộ là rừng bạch đàn. Những cây bạch đàn lớn lên từ lòng đất từng thấm đẫm máu của những anh hùng Plei-Me. Hình như trong gió, thoảng như ru, có tiếng ai, thiết tha, não nuột:
-"Thày ơi! Chạy đi!... Thày ơi!..."
Ngồi bên bìa rừng, đôi mắt Đường-Sơn Đại-Huynh đẫm lệ....
- Giao chỉ - San Jose-
Chuyện tình bi thảm của thời chinh chiến
Giáo sư Bùi văn Phú bên Oakland nói rằng học sinh Nguyễn Bá Tòng 70 ai cũng biết hoa khôi Ngọc Di. Thầy Mạc Đìa ở San Jose nói rằng anh em không quân ai cũng biết phi công Nguyễn văn Lộc. Ngọc Di quê Nha Trang vào học tại Saigon. Trung úy Lộc quê Đà Lạt về Nha Trang đi lính tàu bay. Ghé chơi nhà bạn chợt thấy tấm hình cô gái có đôi mắt “U uẩn chiều luân lạc” đâu biết rằng anh sẽ mệt vì đôi mắt người Nha Trang. Niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi Hoa Kỳ học lái phản lực. Năm 71-72 cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tốt nghiệp tú tài toàn phần và ghi danh trường luật.
Đám cưới ở Nha Trang ngày 6 tháng 2/1974. Một năm sau căn cứ không quân Phan Rang di tản. Chồng đưa vợ có bầu lên máy bay chạy vào Saigon. Trung úy phi công ở lại lo phi vụ hành quân. Chia tay nhưng hẹn gặp lại tại Saigon. Rồi vợ chồng tái ngộ trong niềm hạnh phúc. Lại chia tay thêm lần nữa ngày 28 tháng 4/1975. Ngọc Di có bầu 6 tháng lên máy bay đi Mỹ. Người phi công phản lực ở lại với những phi vụ cuối cùng. Chia tay nhưng vẫn hẹn găp lại, nhưng lần này là vĩnh biệt. Người mẹ trẻ sinh con gái trong trại tỵ nạn ngày 18 tháng 7/1975. Vợ vẫn không biết tin chồng, con không thấy mặt cha. Anh phi công của Việt Nam Cộng Hòa nằm trong trại tù Long Giao tính được gần đúng ngày vợ sinh. Ngày đêm anh sống với đôi mắt người tình Nha Trang. Việt cộng hẹn 6 tháng học tập rồi sẽ trả tự do. Sáu tháng trôi qua chưa được thả, anh âm mưu vượt ngục. Bị bắn chết ngày 25 tháng 3/1976. Chôn cùng người bạn phi công trốn trại. Vợ con bên Hoa Kỳ hoàn toàn không có tin tức. 10 năm sau, những người bạn tù qua được Hoa Kỳ lần lượt kể chuyện về chuyến vượt thoát bất thành. Nhưng không ai biết xác chồng của Ngọc Di ở nơi nào. Ba mươi ba năm sau, những bạn tù không quân mới tìm lại được xác chiến hữu. Người quả phụ không quân đem con gái 33 tuổi về nhận di hài của phi công Nguyễn văn Lộc. Trên chuyến bay hãng EVA đáp xuống phi trường LA ngày 3/11/ 2008 cô Ngọc Di ôm bình tro cốt của chồng. Con gái cô ôm thêm bình tro cốt của người chiến hữu cùng chết bên cạnh anh. Năm nay 2010 là ba mươi lăm năm nhìn lại con đường. Tôi xin kể lại ngọn ngành 35 năm cuộc đời của người góa phụ không quân anh dũng muôn đời.
Một thời chinh chiến
Mỗi người trong chúng ta đều có riêng cho mình những kỷ niệm về tháng 4 năm 1975. Chuyện của cô Nguyễn Thị Ngọc Di thường được kể thêm vài hàng bên cạnh câu chuyện của người chồng anh hùng trốn trại và đã hy sinh. Nhưng tôi lưu ý riêng đến hoàn cảnh người vợ nên đã nghe cô Ngọc Di kể lại tâm sự cuộc tình. Cô nói rằng, dù đã đem được di hài anh Lộc về nhưng tâm tình u uẩn chưa nguôi. Con gái của cháu tương đối ổn định, nhưng phần cháu, cuộc chiến vẫn chưa yên. Từ lúc 10 tuổi, hình ảnh mẹ cháu đi nhận xác chồng với di hài và vết máu trên áo trận của ba cháu vẫn theo đuổi cháu trong nhiều năm. Đến thời gian cháu ở Phan Rang có mấy tháng đã chứng kiến cảnh cô vợ trẻ miền Tây, đẹp não nùng đi nhận xác anh không quân tử trận. Phi cơ bị rơi vẫn còn mang bom. Phi công không kịp nhảy dù. Bom mang theo nổ cùng con tàu. Xác chẳng còn gì. Căn cứ lấy 2 cây chuối cho vào quan tài, thêm 1 ít da thịt rồi đóng hòm thực kín. Khi cô vợ ra nhận xác chồng, vật vã xin mở ra nhìn mặt, nhưng còn thấy làm sao được. Cháu chứng kiến mà thấy tê dại cả người. Anh Lộc dìu cháu vào nhà ở khu sĩ quan độc thân. Anh nói rằng, anh cam đoan sẽ không bao giờ bị như thế. Như vậy là làm sao. Phải chăng lời tiên tri cho cả cuộc đời sau này. Lấy nhau từ tháng 2/74, chẳng bao giờ được gần nhau 1 tháng. Anh đi bay khắp mọi nơi. Đầu năm 75, cháu có bầu mới ra sống ở căn cứ Phan Rang. Vì không có nhà bên cư xá gia binh, phải tạm trú ở khu độc thân, chứng kiến toàn chuyện hy sinh chết chóc, mới 19 tuổi, bác nghĩ coi làm sao mà sống được. Mới năm trước còn là học sinh vô tư qua thời sinh viên hết sức thần tiên. Chợt bước chân vào đời vợ lính, lo lắng sợ hãi biết chừng nào.
Một thời để yêu
Chờ cô Ngọc Di bớt cơn xúc động, tôi xin cô kể lại chuyện tình bắt đầu ra sao. Cô bình tĩnh và kể hết, không hề dấu diếm kề cả chuyện bay bướm và ngang tàng của anh Lộc.
Bác biết không, trước khi gặp cháu, anh Lộc đã quen với cô giáo Hương bên Ba Làng cũng tại Nha Trang. Bạn bè đã có người gọi anh là Lộc Ba Làng. Chuyện này về sau cháu mới biết. Ông anh họ không quân của cháu cũng không biết mới dẫn Lộc về nhà coi mắt chị cháu ở Nha Trang. Nhà cháu có đến 9 anh chị em. Nhưng coi bộ anh Lộc với chị Như Khuê của cô không hợp duyên, nên chỉ chuyện trò qua loa. Chợt anh Lộc thấy hình của Ngọc Di còn đang trọ học Saigon. Anh nói là đã mê đôi mắt từ lúc đó.
Qua niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi học bay tại Hoa Ky. Ngọc Di bắt đầu nhận được thư làm quen. Bạn bè của anh ở Mỹ nói rằng mỗi tuần anh đều nhận được thư của 2 cô. Cô giáo bên Ba Làng và cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng. Nhưng xem chừng đôi mắt người Nha Trang đã lấy trọn vẹn tình yêu của anh chàng không quân gốc Đà Lạt. Dù rằng về phần Ngọc Di vẫn chưa thực sự rung động với tình yêu chiến sĩ.
Hồi hương được 3 ngày, Trung úy Lộc bèn vào trường Nguyễn Bá Tòng lừa cha giám học nhận là anh vào thăm cô em cùng họ Nguyễn. Đây là đầu tiên 2 người gặp mặt. Từ trước chỉ biết qua hình ảnh. Anh chị có 2 tuần lễ đi chơi khắp Saigon, bao nhiêu là quà bên Mỹ, anh phi công hào hoa dành hết cho cô hoa khôi trường trung học.
Giáo sư Bùi Văn Phú thời đó học Nguyễn Bá Tòng cùng lớp với Ngọc Di kể lại rằng hình ảnh anh không quân xuất hiện đã làm cho biết bao nam sinh đau lòng.
Một hôm anh Lộc dẫn cô Di về nhà bà chị tại Saigon, chợt gặp cô giáo Ba Làng ra thăm. Cuộc gặp gỡ bất chợt như trong thoại kịch trên sân khấu. Người yêu cũ chợt thấy bị phản bội, người yêu mới chợt thấy bị lừa dối. Anh không quân đưa Ngọc Di về nhà, nhưng cô cho rằng cuộc tình ngắn ngủi coi như chấm dứt. Cô cũng chưa yêu nên không thấy thực sự bẽ bàng. Sẵn sàng để anh Lộc trở về với người xưa của anh. Nhưng anh không quân đã trở thành Phạm Thái của Tiêu Sơn Tráng sĩ nhất định chết trong cặp mắt của giai nhân Trương Quỳnh Như.
Ngày hôm sau, trung úy phản lực trở lại nói là đã giải quyết xong mục tiêu. Cô gái Ba Làng buồn tủi trở về Nha Trang và anh Lộc quyết 1 lòng đi tới với Ngọc Di.
Cuộc tình duyên trải qua suốt năm tháng dài cho đến ngày đám cưới ở Nha Trang 6 tháng 2-1974.
Một thời hoạn nạn
Khi đôi trẻ bắt đầu xây dựng gia đình qua lễ cưới là lúc đất nước bước vào năm tang tóc cuối cùng. Ngọc Di nhắc đi nhắc lại là cháu đâu có được làm vợ lính cho trọn vẹn một đời. Tuy hòa bình đã ký nhưng 2 bên vẫn còn chiến tranh giành dân lấn đất. Cô sinh viên vẫn lấy bài học luật đi về giữa Saigon Nha Trang và người chồng bất chợt lúc gặp ở Nha Trang, lúc thì Saigon. Mấy tháng cuối cùng sống chung ở căn cứ Phan Rang ngày đêm nghe tiếng phi cơ phản lực và những giây phút ngóng đợi chồng về.
Rồi khi tình thế nguy ngập, anh chồng đẩy cô vợ mang bầu lên C.130 với toàn những người xa lạ. Phi cơ cất cánh, nhìn anh còn đứng trên phi trường Phan Rang, nào biết bao giờ gặp lại nhau. Nhưng rồi anh đem phản lực về Saigon yểm trợ cho mặt trận Long Khánh.
Có tin vợ con phi công chiến đấu vào hết Tân Sơn Nhứt để chờ di tản. Đêm định mệnh cuối cùng Ngọc Di vẫn còn ở nhà với mẹ và thân quyến tại Saigon. Các ông anh cũng có chương trình di tản cả nhà.
Nửa đêm 28 tháng 4/75 chợt có tiếng xe hồng thật tự chớp đèn bấm còi ấm ỹ. Anh Lộc gõ cửa kêu Ngọc Di khẩn cấp lên đường. Bà mẹ nói rằng hay con ở lại để đi với mẹ và anh em, nhưng Lộc kiên quyết kéo vợ đi ngay. Ánh mắt mẹ già buồn bã trông theo. Nhưng sau này cả nhà đều bị kẹt lại. Lên xe hồng thập tự thấy cảnh tượng hãi hùng, Trung úy Giới ngồi bên vợ là cô sản phụ vừa sinh con, ôm con trong khăn còn vết máu.
Thì ra xe bus chở gia đình phi công đã nổ máy chờ trong căn cứ, ông trung úy Giới lấy xe cứu thương của không quân chạy ra nhà thương rước vợ. Anh Lộc nhẩy theo, sau khi đón được vợ con mày, phải ghé nhà cho vợ tao đi. OK.
Xe Hồng thập tự bóp còi chớp đèn chạy như bay trong đêm Saigon. Các gia đình trên xe bus đang nổ máy chờ, thấy 1 bà mới sinh con và 1 bà bầu mặt còn trẻ thơ bước lên xe. Hai ông chồng vất vả đứng trông theo. Ngọc Di nhìn lại anh Lộc qua khung kính. Anh phi công hẹn sẽ gặp lại bên Mỹ. Vợ con đi rồi, còn mấy anh lái phản lực thì xoay sở dễ dàng, Ngọc Di không thể nghĩ rằng đấy là hình ảnh cuối cùng. Đó là ngày 28 tháng 4-1975. Cô đi C.130 qua Côn Son rồi sau đó di tản qua đảo Guam. Hết sức cô đơn, không gia đình, không bà con thân thuộc. Ngay cả gia đình bạn bè trong không quân cô cũng không quen ai. Cô sống 1 cuộc đời tiểu thư từ nhỏ, số mệnh đột nhiên ném vào cuộc đời. Cô bắt dầu cuộc sống trong chờ đợi, đen tối mịt mùng, hoàn toàn tự lập suốt một phần tư thế kỷ.
Một thời định cư
Vẫn tràn đầy hy vọng, cô nằm chờ ở đảo Guam. Các phi công lần lượt đến tìm vợ con và đoàn tụ bay vào lục địa. Anh chị Giới của chuyến xe Hồng thập tự định mệnh cũng đến rồi đi, không có tin gì về anh Lộc và không ai biết là Lộc mất tích, đã chết hay còn lạc loài nơi đâu. Rồi người ta không cho bà bầu ở lại đảo Guam. Cô phải đi Mỹ để còn lo sinh đẻ. Ngọc Di lên đường mắt còn ngó biển Đông. Các trại tỵ nạn Cali và Akansas đã tràn ngập người di tản. Người ta đưa cô về Floria. Nơi đây ngày xưa anh Lộc đã từng đến học bay.
Mỗi ngày vẫn còn người đến trại, dù muộn nhưng vẫn còn tìm được hạnh phúc đoàn tụ bên nhau. Nhưng cô vẫn mòn mỏi đợi chờ. Ngày 18 tháng 7/1975 Ngọc Di hạ sanh 1 bé gái. Nỗi truân chuyên và sống trong ray rứt đợi chờ đã hành hạ thêm cô gái trẻ với 16 giờ đồng hồ đau đớn chuyển dạ. Trước sau vẫn chỉ có một mình. Anh Lộc một năm trước đã đặt tên cho con trai tương lai là Phi Hải. Nhưng cô con gái được mẹ đặt tên là Nguyễn Lộc Đan Vi. Nguyễn là họ của cha và mẹ, Lộc là tên cha. Đan Vi là ý kiến của cô học sinh Nguyễn bá Tòng khi nghĩ đến những cây hoa tường vi đan vào nhau ở cổng nhà chồng trên Đà lạt.
Sau khi sanh con, mẹ con cô tỵ nạn Việt Nam được ông bà bảo trợ đón về nông trại. Ngôn ngữ không quen, suốt vùng quê không có 1 người Việt Nam. Những năm đầu vừa buồn về cảnh ngộ vừa buồn vì cảnh vật. Ngọc Di ôm con sống bằng nước mắt. Duy chỉ có điều, bé gái với cặp mắt thần tiên của mẹ là nguồn an ủi cuối cùng.
Một thời để chết
Cùng lúc đó trong trại tù, anh phi công thấy rằng không còn hy vọng được trả tự do. Thời gian ngộ nhận 15 ngày đã qua từ lâu. Thời gian hứa hẹn học tập 6 tháng cũng qua rồi. Cặp mắt người yêu Ngọc Di thôi thúc ngày đêm, anh phi công ngang tàng 1 thuở nhất định trốn trại, tìm tự do. Hai anh phi công Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé cùng vượt trại. Hy vọng tìm đường qua biên giới Cam Bốt rồi Thái Lan. Giữa 1 đêm mưa gió, cả 2 vượt thoát còn đem theo cả lựu đạn phòng thân.
Lính cộng sản đuổi theo. Lộc chạy trước. Bé ném lựu đạn chận hậu nhưng bị thương ngã xuống. Lộc bèn quay lại, đánh lựu đạn cứu bạn. Được biết lính cộng sản cũng bị chết vì lựu đạn. Vì vậy sau khi 2 anh phi công đã gục ngã chúng còn bắn điên cuồng vào 2 xác chết.
Hai anh chết ngày 25 tháng 3-1976. Cộng sản cho kéo xác để giữa sân trại Long Giao để rằn mặt anh em rồi đem chôn xấp 2 ngôi mộ bên nhau, nhưng không có mộ bia. Các bạn tù tìm cách làm dấu nhưng không rõ ràng. Vài năm sau, không còn ai biết rõ di hài của 2 người anh hùng không quân nằm ở đâu.
Mẹ con Ngọc Di rời bỏ nông trại tìm đường về ở với bà con trên Nữu Ước. Cô nữ sinh hoa khôi Nguyễn bá Tòng, sinh viên luật Saigon tiếp tục cuộc sống lủi thủi với đứa con ngày càng rực rỡ với dấu vết người cha Đà Lạt và đôi mắt bà mẹ Nha Trang.
Mấy năm sau, anh em và gia đình không quân họp mặt nên mẹ con cô Di có dịp về Cali găp gỡ mọi người. Sau cùng cô định cư tại quận Cam. Phải bắt đầu từ thập niên 80 trở đi mới có tin tức về cuộc trốn trại hào hùng và chuyện hy sinh của anh Lộc. Mẹ con bắt đầu nghĩ đến chuyện đi tìm dấu vết của người xưa. Tuy nhiên tất cả đều vô vọng. Không ai còn nhớ những ngôi mộ ở đâu, Cuộc sống vẫn bình thản diễn tiến. Anh chị em đoàn tụ. Mẹ già gặp lại con gái. Cháu Đan Vi tốt nghiệp bác sĩ nhãn khoa rồi lập gia đình. Vợ vẫn không thấy xác chồng. Con vẫn chưa thấy xác cha.
Một lần, hết sức vô tình, Ngọc Di gặp người trong gia đình HO. Anh ở Bắc Cali nói rằng trước có ở Long Giao. Cô Di hỏi rằng anh có biết trung úy Lộc không. Anh HO nói ngay rằng cô có phải là Ngọc Di không. Ngạc nhiên đến xững xờ, cô nói tôi là Nguyễn thị Ngọc Di, sao anh biết. Anh bạn trả lời: "Tôi ở gần anh Lộc trong trại. Anh ấy nói về đôi mắt của cô suốt ngày. Khi cô mới bước vào nhà tôi đã cảm thấy. Khi cô hỏi anh Lộc, tôi biết ngay cô là vợ anh." Và câu chuyện 20 năm xưa tuôn chảy, nhưng sau cùng cũng không biết mộ anh ở đâu.
Một thời ngoại cảm
Câu chuyện đi tìm mộ của anh Lộc đã trải qua 1 thời gian hết sức đặc biệt dựa trên các câu chuyện linh thiêng về lãnh vực ngoại cảm. Sau cùng, người bạn tù, người chiến hữu tận tụy của anh Lộc đã tìm được 2 ngôi mộ của những người phi công trốn trại năm 1976.
Các ngôi mộ được khai quật năm 2008 có cả sự tiếp sức của thầy Mặc Đìa ngồi tại San Jose mà chỉ dẫn qua điện thoại. Mặc Đìa ngày xưa cũng là sĩ quan của không lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng cô Ngọc Di đưa con gái là Nguyễn Lộc Đan Vi về nhận xác người thân.
Ngày 3 tháng 11-2008 mẹ con ngồi trên phi cơ Eva ôm mỗi người một bình tro về Hoa Kỳ. Mẹ ôm tro của chồng, con ôm bình tro chiến hữu. Gia đình anh phi công Lê văn Bé nói rằng chiến hữu đã chết bên nhau thì cho đi Mỹ với nhau. Tuy nhiên bình tro của anh Bé chỉ có 1 nửa. Phân nửa gia đình lưu lại quê hương.
Ngày 8 tháng 11-2008 không quân Nam Cali làm lễ truy điệu cho 2 người anh hùng của họ. Có lễ trao cờ lại cho cô Ngọc Di cùng con gái.
Ngọc Di làm vợ lính có hơn 1 năm và làm quả phụ 33 năm mới nhận được xác chồng bằng tro tàn. Bác sĩ Đan Vi không bao giờ thấy được người cha dù ở trên trời hay ở dưới đất.
Khi khai giấy tờ người ta hỏi rằng con đến Mỹ năm nào. Con khai là đi năm 1975. Con đi bằng phương tiện gì. Con nói là con đi trong bụng mẹ. Cha con bây giờ ở đâu. Con không biết. Có thể còn đang bay ở trên trời. Con không có cha làm sao ai nuôi con học thành bác sĩ. Trả lời: Mẹ con.
Đan Vi là loài hoa tường vi đan vào nhau mọc ngoài cổng nhà anh phi công Nguyễn Văn Lộc.
Tuổi của cô là tuổi của cộng đồng. Cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại năm nay 35 tuổi, cũng là tuổi của Đan Vi, một cô gái khác ngày xưa sinh ra trên tàu Trường Xuân, trên biển Nam Hải, tên cô là Chiêu Anh, cũng 35 tuổi. Chiều văn nghệ 35 năm nhìn lại tại San Jose vào ngày 23 tháng 5/2010 chúng tôi sẽ mời cả 2 cô lên sân khấu CPA. Một cô đi tàu biển vào Mỹ. Một cô đi tàu bay vào Mỹ. Lúc ra đi cả 2 đều trong bụng mẹ.
Cả 2 cô đều không phải là ca sĩ, nhưng vẫn được mời lên sân khấu trình diễn. Hai cô đều không biết hát, chỉ đứng đó cho khán giả vỗ tay. Bởi vì cuộc đời của các cô chính là những bài ca của nửa thế kỷ trầm luân. Đó là những hài nhi của cộng đồng di tản, những công dân của thế hệ mới trưởng thành sau những đau thương của đất nước.
- Thuỳ Dzung phụ trách-
Quê Hương Ai Chẳng Muốn Về
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Trăm nhớ ngàn thương lệ ướt đằm
Thấm cả vào thơ, từng chữ nghẹn
Lời sầu, nghĩa tủi, ý băn khoăn...
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Bà mẹ đường gân những vết bầm
Máu bán từng ngày khô cạn máu
Ngã vùi bên lộ buổi đầu năm
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Áo gấm khoe sang giữa bụi lầm
Trí tuệ khoe giầu, khoe hạnh phúc
Khoe quyền, khoe lực, chẳng khoe tâm!
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Em gái mười ba đã má hồng
Phủ lớp son sầu lên tuổi ngọc
Thả đời trên đỉnh ngọn cuồng phong
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Em bé mồ côi góc chợ nằm
Bà lão chực chờ tô nước phở
Và người khách lạ thản nhiên ăn
Quê hương ai chẳng muô'n về thăm
Khi giới công nhân lệ rớt thầm
Bởi đám chủ giàu người ngoại quốc
Cuộc đời vùi dập cõi mù tăm
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Nghĩa địa thành ra chỗ nhảy đầm
Ruộng lúa hóa thân làm khách sạn
Âm sầu, dương hận đã bao năm
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Ôi lệ hờn đau khó thể cầm
Người lính cộng hòa trên nạng gỗ
Bị thương thời Việt cộng xâm lăng ...
Quê hương ai chẳng muô'n về thăm
Bản Giốc, Nam Quan đã nát bằm!
Hỏi có đau lòng khi đất nước
Tây Nguyên, Hoàng Đảo ngập hờn căm?
Quê hương ai chẳng muốn về thăm
Ngặt nỗi oan khiên chửa lấp bằng
Đời sống vẫn là cơn tủi nhục
Ta về, thấy cảnh, có vui chăng???
Ngô Minh Hằng
*
Hỏi Lại Tôi
Cho tôi về soi trên sông
Nét xưa có nhạt giữa dòng nước xanh?
Mắt chiều còn đọng tinh anh
Hay mờ đục đã héo vành trăng nghiêng
Bờ môi thắm nụ tình riêng
Một thời mọng đỏ còn viền dấu son?
Trải bao sóng gió mỏi mòn
Câu ca ngày ấy có giòn tiếng âm.
Tóc bồng phiêu, ngả màu râm
Còn vương víu nỗi thăng trầm tháng năm?
Một mình đối bóng lạnh căm
Tình đâu vơi cuộc trăm năm hỡi người!
Phạm Phan Hòa
*
Đời Tỵ Nạn
Nhớ thuở ban sơ mới tới bờ
Vai tựa chồng tay dắt con thơ
Lẻo đẻo theo sau thằng em nhỏ
Nắm chặt nhau sợ lạc bất ngờ
Từ nhỏ quen sống mẹ cha lo
Đến khi xuất giá được chồng phò
Tới ngày mất nước đi vượt biển
Một mình bốn mạng mới biết lo
Buổi đầu hội nhập thật khó khăn
Lạ người, lạ cảnh, lạ miếng ăn
Vốn dĩ không từng quen xông xáo
Sau mấy năm vẫn cứ ngỡ ngàng
Trẻ nhỏ đi học đã yên phần
Người lớn tìm việc mới trần thân
Việc làm không thể chọn theo ý
Một năm đổi job bốn năm lần
Chán làm công muốn thử vận thời
Đổi sang làm shop bán cầm hơi
Làm chủ như ở tù giam lỏng
Hết hợp đồng dẹp quách thảnh thơi
Lại ba hồi học bốn hồi làm
Số còn lận đận thì phải cam
Đợi khi tới thời hết đại hạn
Biết đâu sẽ được trời thương ban
Những ngày khốn khó rồi cũng qua
Giờ đây không còn phải bôn ba
Một mái nhà thôi đã quá đủ
Vui cùng con cháu yên tuổi già
Nhớ thuở hàn vi thật cay chua
Cây kim sợi chỉ chẳng được mua
Bây giờ có thể mua mọi thứ
Thì đã chán chường chẳng thiết mua
Người Phương Nam
*
Thương Em Tình Đầu
Chiều thu dạo khúc nhạc buồn
Tim non nghẹt thở, tâm hồn nhói đau
Ngoài trời từng giọt mưa mau
Thương em rẽ lối mùa cau vô thường.
Rừng chiều ngả bóng tà dương
Em bên suối lạc chán chường ngày xanh
Cơn mơ em dội về nhanh
Tiếng trầm bỗng đục, tiếng thanh vỡ oà
Giật mình tỉnh giấc thơ nhoà
Lệ rơi ướt cõi ta bà gió lay
Em về hẩm hút heo may
Cúi đầu anh khấn bàn tay rụng rời.
Em tôi xa mộng cõi đời
Đôi ta chưa kịp ru hời tấm thân
Kiếp này, nhẫn để ngoài sân
Tình đầu để lỡ, bàn chân lặng thầm
Đặng Thy Đông
*
Tình Em
Giọng nói hiền tha thiết
Mơn man gió nhẹ lùa
Nắng buổi chiều diễm tuyệt
Em lộng lẫy bốn mùa
Nụ xuân hồng thắm sắc
Em cười tuổi mười lăm
Màu áo nào em mặc
Ngày anh ghé qua thăm?
Hoa Tường Vy tươi hạ
Áo em màu xanh lam
Đôi tay trần trả giá
Anh khắc hình trong tâm
Tóc ảo huyền lộng gió
Mây mùa thu có buồn
Tình mình còn nguyên đó
Mắt long lanh huyền sương
Chiều mùa đông băng giá
Em sưởi ấm tình anh
Trong vòng tay nghiêng ngả
Môi mắt tình long lanh
!
Đêm qua em thăm hỏi
Giọng trong phone thật gần
Anh như nghe em thở
Rất âu yếm ân cần!
Đêm nào trao ân ái
Môi em ngọt hoa hồng
Siết vòng tay si dại
Nhịp thở ngọt hòa chung
Thy Lan Thảo
*
Lời Ăn Năn
Nâng sầu chạm cốc hư không
Mà nghe rượu đắng cháy lòng xót đau
Van trời! Chậm hạt mưa mau
Đợi tôi vuốt lại nếp nhàu tự tim
Nổi trên sông
vọng tiếng chìm
Để ngàn sau cõi tịch im mãi cười
Thiên thu người vẫn yêu người
Ngậm buồn, giữ nét nguyên tươi giữa đời
Đã trôi đã lệch một thời
Tôi quỳ xin nhận - muôn lời ăn năn.
Phạm Phan Hoà
*
Tháng Tư!!!
Tháng Tư, động mối tâm thương
Ba mươi năm lẻ sao đường vẫn xa?!
Bao giờ về lại quê ta
Về cùng khóm trúc, cây đa, đình làng...
Về cùng bằng hữu, thôn trang
Cùng giàn thiên lý và hàng hiên xưa
Hàng hiên có những giấc trưa
Mẹ ru ta ngủ võng đưa dịu dàng
Hàng hiên có cội mai vàng
Nở hoa trăm cánh huy hoàng chào xuân
Hàng hiên, nơi đã bao lần
Vui đùa cùng bạn đông lân những chiều
Đến ngày tuổi bước vào yêu
Hàng hiên, ta đứng đăm chiêu chờ người
Cũng hàng hiên, một chiều vơi
Tiễn người nước mắt thay lời từ ly
Chiến trường, giữ nước, người đi
Chuyến đi lỡ mộng xuân thì trầu cau
Tháng Tư, nước hận, tình sầu
Bỏ quê, đau đớn xuống tàu ra khơi...
Từ ta đất khách quê người
Nhớ hàng hiên cũ, thương trời quê xưa
Xót người vào cõi gió mưa
Ba mươi năm lẻ vẫn chưa gặp người...
Ai ngăn mà cách, hỡi trời
Quê xưa, người cũ.... xa rồi.... Tháng Tư!!!
Song Châu Diễm Ngọc Nhân
- LS Lê Đình Hồ-
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]
Hỏi (Ông Nguyễn V.H): Cách đây hơn 3 tuần lễ, b5n của con tôi đã lái xe đến nhà và rủ con tôi cùng đi Melbourn. Trên đường đi xe của bạn cháu đã bị cảnh sát lục xét.
Sau khi lục xét xe, cảnh sát đã tìm thấy hơn 400 grams bạch phiến được giấu dưới băng ghế sau của chiếc xe này. Thế là cháu cùng bạn bị điệu về đồn cảnh sát để hỏi cung.
Sau khi hỏi cung, cảnh sát đã cáo buộc con tôi về tội cố ý tham dự vào việc buôn bán bạch phiến với số lượng thương mãi.
Sau đó, con tôi bị đưa ra tòa nhưng cháu không nhận tội. Đơn xin tại ngoại của cháu đã bị tòa từ chối.
Hiện cháu vẫn còn bị giam giữ chờ ngày xét xử. Con tôi hoàn toàn không hề hay biết về số lượng bạch phiến ở trên xe của người bạn này.
Xin LS cho biết là chúng tôi có thể tiếp tục nộp đơn xin tại ngoại hay không? Con tôi chưa bao giờ vi phạm luật pháp trong gần 20 năm sinh sống tại xứ này. Nếu bị kết buộc vào tội này thì hình phạt sẽ bị xử như thế nào?
*
Trả lời: Điều 25(1) của “Đạo Luật về Sự Lạm Dụng và Buôn Bán Ma Túy” (The Drug Misuse and Trafficking Act) quy định rằng: “Người cung cấp, hoặc cố ý tham dự vào việc cung cấp, một lượng ma túy không ít hơn số lượng thương mãi . . . sẽ bị tội về sự vi phạm đó” (A person who supplies, or who knowingly takes part in the supply of, an amount of a prohibited drug which is not less than the commercial quantity ... is guilty of an offence).
Điều 29 quy định rằng: “Người sở hữu một lượng ma túy nhiều hơn lượng ma túy dùng để buôn bán sẽ bị xem là sở hữu ma túy để cung cấp, ngọai trừ (a) người đó chứng minh được rằng đương sự sở hữu ma túy không phải dùng để cung cấp. . .” (A person has in his or her possession an amount of a prohibited drug which is not less than the trafficable quantity of the prohibited drug shall be deemed to have the prohibited drug in his or her possession for supply, unless (a) the person proves that he or she had the prohibited drug in his or her possession otherwise than for supply. . .).
[Ghi chú: Trafficable quantity (số lượng buôn bán): Hiện nay được quy định là 3grams. Commercial quantity (số lượng thương mãi): Hiện nay được quy định là 250grams].
Trong vụ Liu v R [2005] NSWCCA, “Bị cáo là người nghiện ma túy trong nhiều năm và đã thành công trong việc tự cai nghiện, tuy thế đương sự lại nghiện ngập ma túy một thời gian ngắn trước khi bị bắt. Sự nghiện ngập trở lại của bị cáo đã đưa đương sự tìm kiếm lượng ma túy mà đương sự không thể kham nổi”(The accused who had been dependent on heroin for some years had been able to successfully rehabilitate himself but again became dependent a short period before the offence. His renewed addiction led him to seek the drug in quantities which he was not able to afford).
Bị cáo đã mượn tiền của Ma và đã không thể trả nổi nợ. Vì thế Ma đã yêu cầu bị cáo “làm một việc cho ông ta để trả tiền cho số nợ” (do a job for him in payment for the debt).
Những hành vi của Ma và một người vô danh khác đã bị “Cơ Quan Bài Trừ Tội Ác Có Tổ Chức của người Á Châu” nghi ngờ là có dính dáng đến việc buôn bán ma túy. Vì thế, cơ quan này đã theo dõi bằng cách ghi âm các cú điện thoại của họ.
“Vào ngày 21.7.2003 Ma đã gọi điện thoại cho bị cáo và báo cho biết là đã có việc cho bị cáo. Ma sắp xếp để bị cáo đến chỗ của Ma vào lúc 6.30pm. Sau đó người ta thấy bị cáo và Ma gặp Chan tại đường Burwood thuộc vùng Burwood. Chan mang một túi nhựa mày cam và xanh của tiệm bán đồ miễn thuế. trao cho bị cáo. Chiếc túi này sau đó thấy có chứa 2.1kg bạch phiến” (On 21.7.2003 Ma telephoned thwe accused amd told him 'he had a job for him'. He arranged that the accused should come to his place at 6.30pm. The accused and Ma were later observed meeting with Chang on Burwood Road, Burwood. Chan was observed carrying an orange and green coloured Duty Fee plastic bag. This bag was later found to contain 2.1kg of heroin).
Riêng Ma và Chan thì mang chiếc túi nhựa màu trắng vào xe và lái xe đi. Sau đó Ma đã gọi điện thoại than phiền là đã lấy quá nhiều bạch phiến trong lúc thị trường đang ứ đọng, nên Ma đã yêu cầu trả bớt lại.
Vào ngày 24.7.2003 bị cáo lái xe đưa Ma đến Burwood, và cả hai đứng phía sau xe của Chan. “Cảnh sát đã ập đến và bắt cả 3” (The police moved in and arrested all three). Sau đó lục xét trong xe thấy 1.4kg bạch phiến và $20,000 đô.
“Vào lúc chất vấn, bị cáo khai là đã chở Ma đến Burwood vì Ma muốn gặp một người bạn tại đó, nhưng hoàn toàn không biết người đó là ai. Bị cáo cũng khai rằng đương sự không đến gần xe của Chan và hoàn toàn không hề hay biết là trong xe của Chan có tiền và có bạch phiến. Cảnh sát lục xét nhà của bị cáo nhưng không tìm thấy bạch phiến, nhưng khi lục xét nhà của Ma thì thấy có 634gr bạch phiến.
Bị cáo nhận tội “cố ý tham dự vào việc buôn bán bạch phiến với số lượng thương mãi” (Knowingly taking part in the supply of a large commercial quantity of heroin). Bị cáo đã bị xử 8 năm tù và buộc phải thụ hình tối thiểu là 5 năm. [Hình phạt tối đa của tội trạng này là tù chung thân - The maximum penalty for this offence is life imprisonment].
Bị cáo bèn kháng án vì cho rằng bản án quá nặng khi vị thẩm phán tọa xử đã phạt đương sự một bản án ngang với đồng bị cáo là Ching Sum Chan.
Tòa Kháng Án Hình Sự cho rằng có sự khác biệt giữa tình huống của bị cáo và Chan, vì bị cáo nhận tội cố ý tham dự vào việc cung cấp bạch phiến trong lúc đó Chan đã nhận tội cung cấp bạch phiến. Vị thẩm phán tọa xử thì cho rằng vai trò của bị cáo là chuyển tải và giữ bạch phiến cho Ma vì thế không thể nói rằng Chan đã đóng vai trò quan trọng hơn trong vụ việc này.
Ma bị xử 8 năm 6 tháng, và buộc phải ở tù tối thiểu là 5 năm 6 tháng vì đương sự nắm vai trò chủ chốt và được gọi là “Mr Big”.
Trong vụ này, khi tuyên án, vị thẩm phán tọa xử đã nghĩ rằng Chan tội nặng hơn bị cáo. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là vị thẩm phán tọa xử đã sai lầm trong lúc tuyên án bị cáo. Cuối cùng Tòa quyết định giữ nguyên y án.
Dựa vào luật pháp cũng như phán quyết vừa trưng dẫn ông có thể thấy được rằng tội trạng mà cháu bị cáo buộc là một tội trạng hình sự nghiêm trọng vì hình phạt tối đa dành cho tội trạng này là 25 năm tù. Tuy nhiên, nếu cháu ngay tình và hoàn toàn không hề hay biết gì về số lượng bạch phiến đó thì chắc chắn rằng cháu sẽ được tha bổng. Việc này còn tùy thuộc vào lời khai của người bạn cùng đi.
Tòa sơ thẩm thường có khuynh hướng bác bỏ thỉnh cầu xin tại ngoại liên hệ đến các tội trạng này. Vì thế, nếu muốn kháng án về quyết định này của tòa sơ thẩm ông phải nộp đơn tại Tối Cao Pháp Viện của Tiểu Bang.
Nếu ông còn thắc mắc xin điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp.
-Thuỳ Dzung phụ trách-
Giấc Mơ Tháng Tư
Đã ba mươi mấy năm trời
Xa quê, sống kiếp dân hời, thương quê
Thương quê, lòng nặng lời thề
Ngày mai ta sẽ trở về quê ta
Ngày về, vang tiếng quân ca
Cờ bay rực rỡ sơn hà, vàng tươi....
Xa quê, nhớ tuổi lên mười
Tắm mưa, đá dế, tập bơi, thả diều
Nhớ bao kỷ niệm dấu yêu
Của thời thơ trẻ, những chiều dậy hương
Nhớ chiều rộn rã tan trường
Nhìn theo màu áo cuối đường, mắt tê!
Nhớ giàn bông giấy đêm hè
Ngồi cùng bạn, đón trăng về, hát vang...
Lớn thêm, yêu xóm, yêu làng
Yêu Nam Quan tới bạt ngàn Cà Mau
Nhưng rồi một tháng Tư đau
Tháng Tư, đất nước u sầu tang thương
Bao người trốn khỏi quê hương
Tìm miền đất sống, tìm đường tự do
Tháng Tư, mất tuổi học trò
Mất luôn cả những giấc mơ vào đời
Quê người, nhớ quá quê tôi
Dưới giàn bông giấy ai ngồi chờ trăng?
Ai người nghe chuyện cung Hằng
Con trâu, bó lúa rồi căng mắt tìm
Tìm hoài không thấy, vẫn tin
Cây đa, chú cuội nổi chìm trong mơ!
Quê tôi xa quá, bây giờ
Tôi và quê ở hai bờ đại dương
Tôi mơ một sáng tinh sương
Có đàn chim Việt trên đường về quê
Về quê, thực hiện lời thề
Dựng cờ phục quốc, bốn bề vàng bay...
Ngô Minh Hằng
*
*
Đêm Trắng
Cả đêm không ngủ chút nào
Tại sao? Biết trả lời sao với người!
Nếu như ý nhị mỉm cười
Thì người có hiểu rằng tôi nói gì?
Hay là lặng lẽ quay đi
Để che đôi giọt lưu ly lăn dài
Thì ai có biết cho ai
Vì sao nước mắt u hoài lại rơi...
Dẫu cho thưa thật một lời
Thì người có cảm thông tôi ít nhiều?
Vâng... vì... ai... rắc hương yêu...
Hương bay lạc với gió chiều đến đây...
Gió chiều làm mắt tôi cay
Làm lòng tôi chạnh nhớ ngày xuân xưa
Để trời đổ những cơn mưa
Hồn tôi lạnh bởi gió lùa vào tim
Thương đời biền biệt cách chim
Thương mình chiếc bóng lặng im bên đời
Giận ai hay trách gió trời
Gởi hương chi để làm tôi tủi lòng!
Gía như gió ấy vẫn trong
Thì đêm không trắng, thì dòng lệ khô....
Song Châu Diễm Ngọc Nhân
*
- Phạm Thanh Phương phụ trách-
Thơ Đấu Tranh là nơi hội tụ những vần thơ "tải đạo" của các thi nhân luôn luôn thấy trong lòng: "Ba mươi năm lẻ đá mòn. Niềm đau trang sử vẫn còn trơ trơ. Ba mươi năm nát hồn thơ. Có nghe chăng mảnh dư đồ giẫy đau?" Thơ Đấu Tranh tha thiết hy vọng được sự đóng góp, xướng họa, của thi hữu xa gần có chung hoài bão: "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm; Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà"... Qúy thi hữu, độc giả nào cảm thấy cao hứng, muốn "dương buồm chở thuyền đạo, phóng bút đâm kẻ tà", xin vui lòng gửi bài về hộp thư tòa soạn, bên ngoài ghi: Thơ Đấu Tranh. - Trân trọng. Phạm Thanh Phương
*
Nỗi Lòng Tháng Tư Đen
Tháng tư đến mây đen vần vũ
Trời đổ mưa, giọt nước ngậm ngùi
Nhuốm u hoài mắt lệ đầy vơi
Hồn ngất lịm, hằn sâu ấn tích
Hơi thu lạnh đêm về u tịch
Cây thở dài uất nghẹn đau thương
Cánh chim khuya trăn trở đoạn trường
Hoa nức nở, não lòng ly quốc
Đi về đâu cho tròn nguyện ước
Giữa biển đời sóng cuộn lênh đênh
Kiếp lưu vong trôi nổi gập ghềnh
Mong hội ngộ những vòng tay ấm
Lửa đấu tranh cuộn trào cơn sóng
Quay về đây chia xẻ xót thương
Cùng anh em nối khúc đoạn trường
Xoa dịu bớt điêu tàn loang lở
Đến với nhau cùng chia nhịp thở
Nghĩa đồng bào, huyết quản tương thông
Kinh tình yêu dệt phím tơ lòng
Lau nước mắt bên đời nghiệt ngã
Hãy quên đi phù du chắp vá
Đừng đớn hèn vướng bả hư danh
Nhục giống nòi hào kiệt, liệt oanh
Dòng thanh sử vướng mầu hoen ố
Mảnh thanh tâm thơm mùi đất tổ
Chí quật cường đượm thắm non sông
Diệt tham tàn, thô bạo, cuồng ngông
Cao chính nghĩa, điểm tô lịch sử.
Pham Thanh Phương
*
*
Nhớ Ngày Quốc Hận
Có hận nào bằng nỗi hận vong quốc
Có sầu nào bằng viễn xứ lưu vong
Ba mươi lăm năm thương nhớ ngập lòng
Thương quê mẹ cũ, nhớ ngày quốc hận
Thuở ấy miền nam dù trong khói lửa
Muôn dân lành vẫn vui sống tự do
Bao đồng xanh bát ngát thẳng cánh cò
Chống giặc thù đã có anh chiến sĩ
Cám ơn anh những người anh lính chiến
Từ biên cương, tận thôn xóm đến thị thành
Một vòng đai che chắn thật an lành
Cho tòan dân suốt dặm dài chinh chiến
Bao xương máu đổ ra cho quê mẹ
Nằm gai nếm mật chẳng quản tử sinh
Mong ngày mai đất nước được thanh bình
Bắc với Nam một chuyến tàu thống nhứt
Nhưng ngờ đâu trời bày cơn mạt vận
Để cuối cùng bị cưỡng bách quy hàng
Để cuối cùng phải nước mất nhà tan
"Giải phóng" chi thành chim lồng cá chậu
Từ dạo quê hương chìm trong biển đỏ
Triệu triệu người liều chết quyết bôn đào
Ngậm ngùi lìa nơi cắt rún chôn nhau
Ba mươi tháng tư, ôi ngày quốc hận!
Người Phương Nam
*
*
Mẹ Là Mẹ Việt Nam
Mồ hôi đổ má mẹ hồng ửng
Khơi than tàn nhóm bếp cơm trưa
Đôi vai mẹ, tháng năm dài nặng
Chăm sóc đàn con buổi nắng mưa
Cảnh nhà nghèo, đồng tiền eo hẹp
Sáu đứa con, tuổi ăn học vào đời
Đất Gò Công phèn chua nước mặn
Miếng ăn, thức uống
héo nụ cười.!
Món canh mẹ nấu kèm món mặn
Tôm rang đường, muối ớt đỏ au
Trời Gò Công ít mưa nhiều nắng
Tình mẹ cho con vẫn ngọt ngào
Mâm cơm gia đình thật vui vẻ
Ngồi cạnh nồi cơm khói bốc thơm
Mẹ xới cơm- lo từng trái ớt
Không sơn hào, hải vị mà ngon.!
Ngày anh Ba bước chân vào lính
Nhà chỉ còn thằng út quẩn quanh
Mấy năm sau nó vào Thủ Đức
Mẹ nhìn ba- nhà cửa vắng tanh
Anh Đại úy, thằng em Trung úy
Mẹ buồn lo nghe súng nổ gần
Tình mẹ cho con luôn tuyệt mỹ
Biển bao la
sóng vỗ ân cần!
Ngày tàn cờ, mẹ nhìn con trở lại
Trong niềm vui canh cánh nỗi lo
Bởi mẹ biết giặc về man rợ
Mẫu tử tình thâm ai hiểu cho
Năm đầu tiên hai con chung trại
Hàng tuần mẹ xách giỏ thăm nuôi
Mẹ Việt nam sao gặp nhiều oan trái
Mắt mẹ buồn thương nhớ xa xôi
Suốt cuộc chiến nát tình sông núi
Mẹ Việt Nam luôn vất vả trăm bề
Thượng đế hỡi phép lành hãy trả
Cho trời Nam nhẹ bớt thảm thê
Thy Lan Thảo
- LS Lê Đình Hồ -
[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc ledinhho@hotmail.com]
Hỏi (Bà Nguyễn T.H.H): Con của tôi năm nay đã 28 tuổi. Cacùh đây gần 3 tháng, cháu bị cáo buộc về tội cướp có vũ khí. Thực ra, cháu không hoàn toàn tỉnh táo khi sự việc xảy ra. Trong tờ cáo buộc của cảnh sát tại tòa, cảnh sát đã cho biết rằng cháu đã dùng dao và buộc 2 thanh niên tại trạm xe lữa đưa tiền. Sau đó cháu vào cây xăng mua thuốc lá và lại dùng dao yêu cầu người bán hàng đưa tiền. Tại đây cháu đã bị cảnh sát bắt và cáo buộc về tội vừa nêu.
Cháu đã bị bệnh tâm thần từ lâu mà không thể chữa dứt hẵn được. Mặc dầu tội trạng mà cháu bị cáo buộc là như vậy, nhưng tòa vẫn cho cháu tại ngoại để tiếp tục chữa trị.
Xin Ls cho biết là nếu cháu hoàn toàn không hề hay biết về hành động mà cháu đã làm thì luật pháp và tòa án có tha cho cháu hay không?
*
Trả lời: Điều 97(1) của Đạo Luật Hình Sự (Crimes Act 1900) quy định rằng: “Bất cứ ai, trang bị với vũ khí, hoặc khí cụ tấn công, hoặc đồng lõa với người khác để cướp hoặc hành hung bất cứ người nào . . . sẽ bị tù 20 năm” (Whosoever, being armed with an offensive weapon, or instrument, or being in company with another person, robs, or assaults with intent to rob, any person. . . shall be liable to imprisonment for twenty years).
Trong vụ Regina v Pulliene [2009] NSWC CA 47 “Nạn nhân, nhân viên làm việc tại tiệm xăng, đang phục vụ cho một khách hàng tại vòi bơm xăng thấy bị cáo đi vào cây xăng. Nạn nhân quan sát thấy cô ta là một người lùn và mập, và để ý thấy cô ta đang mang một mặt nạ bằng plastic hình máng xối và chiếc áo sơ mi của cô ta ở phía dưới bụng nhô ra” (The victim, a service station attendant, was serving a customer at a fuel pump when he saw the accused approaching the premises. He observed her to be short and overweight, and he noticed that she was wearing a plastic gargoyle-type face mask and that her stomach was protruding from under her shirt).
“Nạn nhân đã bình phẩm một cách hài hước với khách hàng của mình rằng bị cáo trông dường như là sắp cướp tiệm xăng. Tuy nhiên, khi bị cáo đi vào tiệm nạn nhân bắt đâu lo và đã yêu cầu người khách theo nạn nhân vào bên trong”(The victim commented to his customer, jokingly, that the accused looked as if she was about to rob the business. However, as the accused walked into the store he became concerned and asked the customer to follow him inside).
“Khi vào bên trong, bị cáo đã vung dao và đòi đưa tiền. Nạn nhân lo sợ và đã ôm cái tấm bảng kẹp giấy dùng để viết vào ngực hầu tự bảo vệ mình. Oâng ta yêu cầu bị cáo lấy bất cứ gì cô ta muốn. Cô ta mở hộc tiền và lấy một số giấy bạc10 đô và 20 đô. Bị cáo rời tiệm xăng và nạn nhân đã gọi số khẩn cấp” (Once inside, the accused brandished the knife and demanded money. The victim was fearful and held a clipboard to his chest to protect himself. He invited the accused to take what she wanted. She opened the till and took a number of $10 and $20 notes. The accused left the store and the victim dialled the emergency number).
“Người khách thứ hai, đến tiệm xăng vào lúc bị cáo đang rời tiệm, dùng xe của đương sự theo xe bị cáo. Ông ta thấy bị cáo lột mặt nạ ra và không lâu sau đó ông ta thấy bị cáo đi bộ hướng về một chung cư. Sau đó cảnh sát đã đến chung cư đó. Bị cáo đã bị bắt nhưng bị cáo đã cự tuyệt là không dính dáng đến sự vi phạm đó. Tuy nhiên, khi căn hộ mà cô ta ở bị lục xét, cây dao mà cô ta đã xử dụng được tìm thấy, cùng với số tiền giấy tổng cộng là 60 đô” (A second customer, who arrived at the service station as the accused was leaving, followed her in his car. He saw her removed her mask and a little later he observed her walk towards a block of flats. Police later attended those flats. The accused was arrested but she denied any involvement in the offence. However, when the flat she occupied was searched, the knife which she had used was found, together with notes totalling $60).
“Người ta hoàn toàn không biết rõ là bao nhiêu tiền đã bị cướp. Những chi tiết về sự cáo buộc đưa ra trong cáo tri hầu tòa xác nhận số tiền đó là $1,100. Tuy nhiên, theo bản khai về các sự kiện, thì hộc tiền chứa tiền mặt để thối tổng cộng là 500 đô” (It is not entirely clear how much money was stolen. Particulars of the charge set out in the court attendance notice assert that it was $1,100. However, according to the statement of facts, the till had contained a cash float totalling $500”.
Bị cáo bị cáo buộc về tội cướp có vũ khí và đã nhận tội.
Bản tường trình trước khi tuyên án cho thấy rằng bị cáo được 19 tuổi vào lúc phạm tội. Cô đã từng có tiền án tại tòa án thiếu nhi với tội trạng đe dọa để tống tiền vào năm 2004. Ngoài ra bị cáo còn phạm tội hành hung gây thương tích trầm trọng về thể chất, và tội chống lại cảnh sát trong lúc thi hành nhiệm vụ.
Cha mẹ của cô ta đã sống ly thân vào lúc cô ta được 11 tuổi, và bị cáo ở với người cha. Bị cáo khôn lớn lên và bị hư hỏng vì sự bạo hành trong gia đình vì cha mẹ của cô ta là những người ghiền ma túy, và mẹ của cô cũng bị bệnh rối loạn tâm thần.
Bị cáo bỏ học khi được 15 tuổi. Bác sĩ tâm thần cho biết rằng bị cáo bị rối loạn tâm thần, và cho biết rằng sự hiểu biết của bị cáo rất giới hạn.
Vì những lý do vừa nêu, vị chánh án tọa xử đã triễn hoãn việc tuyên án và chấp nhận cho bị cáo được tại ngoại có điều kiện. Tòa buộc bị cáo phải cư ngụ tại địa chỉ cố định, không được ra khỏi nơi cư ngụ trong những giờ quy định, và phải ghi danh học tại trường TAFE. Bị cáo phải dự khoá cai nghiện và phải theo sự hướng dẫn cũng như phải thử nước tiểu khi được yêu cầu.
Quyết định này của tòa đã bị công tố viện kháng án. Tuy nhiên, Tòa Kháng án Hình Sự đã bác đơn kháng án của công tố vieVit Nam và đồng ý với phương cách mà vị thẩm phán tọa xử đã đưa ra trong trường hợp đặc biệt này của bị cáo.
Dựa vào luật pháp cũng như phán quyết vừa trưng dẫn bà có thể thấy được rằng tội trạng mà cháu đã bị cáo buộc là một tội trạng hình sự nghiêm trọng vì hình phạt tối đa dành cho tội trạng này là 20 năm tù.
Tuy nhiên, thời gian thụ hình dài hay ngắn, ngay cả trong trường hợp cháu bị kết tội, điều đó còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác chẳng hạn như tuổi tác, sức khoẻ, tình trạng gia đình, tiền án, và nhất là tình huống mà trong đó tội phạm đã xảy ra.
Trong trường hợp của cháu nếu thực sự cháu bị tâm thần, với điều kiện là bác sĩ điều trị cho cháu cung cấp đầy đủ bằng về bệnh tình nghiêm trọng của cháu [về điểm này công tố vieviện cũng sẽ chỉ định một bác sĩ tâm thần của họ để khám nghiệm và đưa ra lời bình phẩm về tình trạng tâm thần của bị cáo], thì trong một vài trường hợp đặc biệt, tòa có thể đưa ra quyết định để cháu được tiếp tục chữa trị tại các dưỡng trí viện.
Trong những trường hợp này phạm nhân, [và người nhà có nhiệm vụ phải giúp phạm nhân], thực hiện tất cả các điều kiện mà tòa đã đưa ra, để đảm bảo rằng phạm nhân sẽ không tái phạm và được chữa trị đúng mức để bệnh tình chóng thuyên giảm.
Nếu bà còn thắc mắc xin điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp tường tận hơn.